Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Những lời khuyến tu của Đức Mẹ


NHỮNG LỜI KHUYẾN TU CỦA ĐỨC MẸ
DIÊU TRÌ BỬU ĐIỆN, NAM THÀNH THÁNH THẤT,
Tuất thời Rằm tháng 6 Tân Hợi (5-8-1971)

Mẹ linh hồn các con nam nữ. Mẹ mừng các con!
Thi:
Lìa chốn Hư đến cõi trần,
Thấy con khổ CỰC kiếp vi nhân;
Đem lời TỪ ái ra khuyên nhủ,
Mượn tiếng TÔN ti để đỡ nâng.
Mở ngỏ DIÊU Cung chờ mỏi mắt,
Soi dòng TRÌ thủy đợi chồn chân;
Giá xưa KIM ngọc còn treo đó,
Nhớ thuở MẪU nhi được hiệp quần.
Các con ôi! Mẹ mừng được thấy các con vẫn nhớ lời dạy hôm kỳ đàn trước mà Mẹ đã dặn dò các con ngày hôm nay qui tụ về đây. Các con đã thể hiện được tinh thần hòa hiệp thương yêu dưới bóng cờ Đại Đạo. Mẹ vui lòng muốn các con theo đà tiến đó mà đi đến ngày hợp quần đồng nhứt nữ phái để lập thêm công quả bằng phương tiện đem Đạo giác ngộ người đời, để xã hội loài người các con trở nên một xã hội đạo đức thuần lương Thánh thiện.
Thi:
Nữ nam phân cách bởi hồng trần,
Diện mạo hình hài với xác thân;
Bổn tánh chơn như đâu có khác,
Con nào cũng có vị nguyên nhân.
Các con nữ phái nghe lời Mẹ dạy:
Trải qua mấy mươi thu dư, các con đã gần cửa Đạo, được nghe lời chỉ giáo đã nhiều. Nhờ đó các con cũng đã được một số vốn về đạo đức đáng kể, khả dĩ để tự độ và độ tha. Mẹ mừng cho các con đó. Nhưng các con ôi! ngày nay đất nước các con còn trong cảnh chiến tranh khói lửa, dân tộc các con trong cảnh tranh chấp giựt giành, xâu xé lẫn nhau trong cảnh tương tàn tương sát. Tuy rằng đó là kiếp nạn chúng sanh, mà dân tộc các con đã và đang cưu mang gánh lấy, nhưng các con ôi! còn một phần lớn khác nữa, vì xa cách tình thương của Thượng Đế, chối bỏ đạo đức, chối bỏ sự sanh hóa trưởng dưỡng và tình thương bảo tồn của Thượng Đế.
Các con là những thành phần giác ngộ trước hết, các con đã biết nghe lời dạy của Chí Tôn Thượng Đế và của chư Phật Tiên, các con đã thể hiện được trong muôn một tình thương của Thượng Đế, dầu rằng các con đã làm được ngần ấy nhưng chưa xây chuyển được cuộc đời từ đọa lạc trở nên hạnh phúc. Đó là bởi vì các con chưa thi hành đúng mức hoặc đã thi hành nhưng chưa trọn vẹn giữa lời nói và việc làm, thế nên chưa cảm hóa được nhơn sanh. Đầu cân đạo đức các con còn nhẹ thiếu chưa làm nghiêng hẳn cán cân về bên Thánh Thiện. Các con đã thắp ngọn đèn chân lý soi vào thế giới âm u tội lỗi, nhưng rất tiếc vì những ngọn đèn ấy quá ít và quá nhỏ, thế nên chưa đủ sáng soi rọi giữa đêm trường tối tăm dầy đặc.
Cũng như vậy, tình thương đồng đạo, đồng bào, đồng chủng các con đã có, nhưng tình thương ấy các con đã giới hạn nó trong những dấu chân trâu, thế nên chưa hòa đồng lẫn nhau giữa dấu chân này và dấu chân khác. Những hột muối tình thương các con quá nhỏ, trong lúc ao hồ sông rạch nước loãng mênh mông, thế nên vị muối không còn nguyên chất của nó. Các con có hợp đoàn hướng thiện, có hợp quần để xiển dương đạo lý mới đem lại sự kiến hiệu của vấn đề.
Các con thử xem: một con kiến quá nhỏ không ai còn lưu ý đến nó là gì, nhưng nhiều con kiến nhỏ biết hợp đoàn cùng tha hột gạo, dầu kho gạo lớn đến đâu, trong thời gian nào đó sẽ thấy thâm thủng hao mòn mất mát.
Một bàn chân con cóc vẫn đè chết giẹp một con kiến nhỏ, nhưng nhiều con kiến hợp thành ổ, đồng loạt bu cắn dầu cọp gấu sư tử hoặc voi cũng không dám đương cự. Nhưng nếu mỗi con kiến hoặc mỗi nhóm nhỏ kiến phân tán đó đây có ngày sẽ bị tiêu diệt.
Mẹ đau lòng nhìn thấy kiếp khổ nạn nhơn sanh của dân tộc các con còn trong vòng đau khổ. Chúng nó đang trông chờ chiếc đũa thần đạo đức của các con để cải cựu hoán tân cõi đời  đầy đau khổ này. Chúng nó đang chờ các con thả những cái phao trên mặt biển khổ để chúng vớ lấy trong lúc lặn hụp biển trần đầy xảo trá này. Chúng nó đang đợi các con ban cho những chất keo sơn gắn bó để hàn gắn lại những gì càng ngày càng rách nát gãy đổ cho cái nền luân lý của xã hội dân tộc bất hạnh này.
Các con là những người thừa hưởng cái di sản xấu hoặc tốt để lại, chớ không phải di sản ấy tự các con dựng gầy, nhưng không phải vì thế mà các con đành thụ động không có óc sáng tạo cầu tiến cải cựu hoán tân để thích hợp với hoàn cảnh, với trình độ nhân loại đang vươn mình lên.
Tưởng cũng nên nhắc lại cho các con nhớ chữ "ĐẠO".
Đạo không hình, không tướng, thế nên đừng ai lấy thúng mà úp cái Đạo, đừng ai lấy khuôn mà đổ cái Đạo. Phải hiểu Đạo là uyển chuyển thiên biến vạn hóa, tùy cơ duyên mà phổ độ, tùy hoàn cảnh thực tại mà linh động uyển chuyển tác dụng cho hợp thời đúng lúc, tùy trình độ căn trí mà biện minh phân giải, thuyết lý độ đời. Điều nào hay thì giữ gìn mà phát triển, điều nào dở không thích hợp thì phải trả về cho quá khứ, điều nào thiếu thì sẽ thêm vô cho đủ, điều nào dư thì hãy cắt xén bớt cho tròn vẹn.
Thí dụ: cũng một lời nói, nhưng với người này thì áp dụng được, với người khác không áp dụng được. Cũng một lời nói nhưng ngày nay nói được mà ngày mai hoặc hôm qua không nói được. Nghĩa là, dầu lời nói, dầu việc làm phải đúng chỗ đúng lúc mới kiến hiệu.
Như việc hành Đạo của các con, trước kia các con còn mộc mạc đơn giản thô sơ về Đạo học, các Đấng Thiêng Liêng phải dùng những hình thức hoặc giáo thuyết, giáo đồ để cho vừa với trình độ hiểu biết đó mà dìu dẫn các con.  Đến ngày nay hoặc một thời gian tương lai nào khác, không thể đem những phương pháp hoặc khuôn rập của 45 năm về trước ra áp dụng.
Nói như vậy, các con đừng vội hiểu lầm rằng: Đạo là bất di bất dịch, chân lý là tuyệt đối, tại sao phải nay dời mai đổi, hoặc vui đâu chúc đó. Không phải vậy đâu các con. Lẽ cố nhiên, chân lý là chân lý, chân lý là tuyệt đối, nhưng khi đem áp dụng phải đúng chỗ đúng lúc thì cái chân lý ấy mới tuyệt đối, mới có giá trị.
Các con suy luận điều đó rồi xét lại việc hành Đạo của mình mà những người đi trước đã tạo những cái nếp sẵn. Đừng mù quáng chấp ngã rồi khư khư ôm chầm lấy những chi tiết sai lầm của người đi trước rồi không dám cải cựu hoán tân để hợp tình hợp cảnh trong việc hợp đoàn phổ độ nhơn sanh lập công bồi đức.
Các con ôi! nhìn ra bên ngoài, các con sẽ thấy biết bao nhiêu gia đình tan nát vì chiến tranh, vì ly loạn, không có một mái nhà để đục nắng che mưa. Trong lúc đó Thánh Thất, Thánh Đường mọc lên như nấm, rải rác đó đây trong nước các con. Các con đã thấy gì bên trong Thánh Thất Thánh Đường đó? Ngoài chỗ thờ phượng tôn nghiêm, còn thừa bao nhiêu chỗ trống để bụi bám nhện giăng, rêu phong cỏ mọc, mỗi tháng có hai lần sóc và vọng, bổn đạo chung quanh tề tựu đến đảnh lễ Thiêng Liêng, cúng hành hương, độ một bữa chay rồi ôm khăn gói ra về. Đi đến Thánh Thất đôi lần bảy lượt không thấy có gì mới lạ, lần hồi chểnh mảng không đến nữa, dẫu đến cũng chỉ có thế mà thôi. Có những con thấy không khí buồn tẻ, chẳng biết nói gì, tự nảy sanh bàn phiếm theo báo chí, nào quốc sự, chánh trị miệng của thiên hạ, binh người này, bỏ  người kia, v.v... không có sinh hoạt đạo đức, mà đáng lẽ nơi đây phải được thuyết giảng đạo lý thường xuyên tối thiểu hai lần mỗi tháng để bổn đạo biết thế nào gọi là tu, cúng chùa, tụng kinh ăn chay, niệm phật để làm gì và làm thế nào để đắc Đạo. Đó là những điều cần thiết phải được sinh hoạt đều đều trong Thánh Thất Thánh Đường. Nhơn sanh đạo hữu có hợp tác hành đạo được là nhờ có người chỉ dạy cho biết Đạo là gì. Khi đã có tổ chức hành Đạo thì mọi việc hành Đạo ràng buộc những người trong nội bộ Thánh Thất đó. Có sự ràng buộc hỗ tương lẫn nhau thì không khí sôi động nhộn nhịp về hành thiện đạo đức mới có cơ nổi bật lên để lôi kéo sự hiếu kỳ và hấp dẫn người đời vào Đạo. Như vậy mới gọi là hành Đạo độ đời.
Nếu chùa thất rộng rãi bỏ trống không, đã phí của nhơn sanh bổn đạo, không độ dẫn người đời, đó là chưa kể đến những điều tệ hại có thể xảy ra nếu Thánh Thất nào đó có nguồn lợi tài sản, v.v...
Các con nữ phái yêu quí của Mẹ! các con đừng tưởng việc hành Đạo là của nam phái như đã quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Các con nữ phái là những bộ phận hỗ trợ đắc lực trên phương diện hành Đạo cho nam phái. Việc hỗ tương giữa nữ phái từ Thánh Thất, Tịnh Thất, am tự, chùa chiền rất cần thiết. Các con hãy thể hiện thế nào cho xứng đáng là một nguyên nhân tá trần thế Thiên hành hóa.
Tuy rằng kiếp nạn là kiếp nạn chung, các con nào chịu nhọc, gia công hành Đạo sẽ đỡ khỏi phải vương lấy sự cực nhọc về nghiệp quả bản thân giữa cõi đời đầy đau khổ này.
Các con ôi!
Bài:
Cuộc biến chuyển vẫn còn biến chuyển,
Tuồng tang thương diễn tiến không ngừng;
Xưa nay nữ liệt tài nhân,
Vì danh với lợi mà thân buộc ràng.
Đã trót sanh trần gian cõi tạm,
Mang hình hài trong đám nữ nhi;
Đời con phải có những gì,
Hiến dâng Đức Mẹ mỗi khi trở về.
Cho khỏi thẹn lời thề năm ấy,
Vào cõi đời mang lấy vào thân;
Đến khi con xuống hồng trần,
Mểnh mang nhục thể bội phần khó khăn.
Cực hơn đám nam nhân mọi mặt,
Việc tề gia sắp đặt ngoài trong;
Con thơ một đám ròng ròng,
Cảnh nhà đủ thiếu từ trong đến ngoài.
Con ngày tháng trở xây mọi mặt,
Đứa nghèo nàn đầu tắt mặt đen;
Nông phu tay đất chơn phèn,
Quanh năm suốt tháng đua chen với đời.
Có ai để khuyên lời đạo đức,
Rằng tôi còn nghèo cực long đong;
Chừng nào gia đạo vẹn xong,
Các con nên vợ nên chồng sẽ hay.
Đến chừng ấy bắt tay hành Đạo,
Để mà lo thiện bảo kỳ thân;
Giờ đây tại vướng nợ nần,
Tiền vay bạc hỏi khó khăn đến chùa.
Đứa khá giả có thừa vật chất,
Nghe lời khuyên đạo đức thì rằng:
Bị nhiều hãng xưởng tứ giăng,
Nào thầy nào thợ kẻ ăn người làm.
Nếu vào Đạo không kham sợ tội,
Giữa lúc này xin lỗi quí ông;
Vì chưng gia đạo chưa xong,
Con chưa thi cử và chồng làm quan.
Biết bao việc đa đoan bận rộn,
Khắp trong ngoài lớn vốn lớn thuyền;
Nếu đi lo việc chùa chiền,
Việc nhà bê trễ xóm giềng chê bai.
Nào tại bị, bị vầy, bị nọ,
Tại vì đây, bị đó lăng xăng;
Bao nhiêu sự nghiệp tứ giăng,
Bao nhiêu danh vọng chưa an phận người.
Lúc nghèo đói cũng thời tại bị,
Đến sang giàu tại bị nhiều hơn;
Thôi đành nhắm mắt đưa chơn,
Để xem sự thế xây vần về đâu.
Hoặc chờ lúc bạc đầu tuổi hạc,
Sẽ đi tu sẵn bạc sẵn tiền;
Hiến dâng cúng Phật, cầu Tiên,
Để cho thất tổ cửu huyền siêu thăng.
Hoặc cho con làm quan thượng hạ,
Hoặc cho chồng cao cả vị ngôi;
Cầm quyền răn chúng trị đời,
Cầu xin chư Phật Đất Trời chứng minh.
Mướn tụng nhiều tạng Kinh Sám Hối,
Để cho tiêu tội lỗi tiền khiên;
Một bên lo lót Phật Tiên,
Một đàng lo tạo của tiền bất nhơn.
Còn chính tại bản thân vào Đạo,
Chưa học hành cải tạo tâm tư;
Chưa theo đạo đức nhân từ,
Vào chùa biếng lạy gật gù nhiều hơn.
Lạy Trời Phật ban ơn cho sống,
Ngoài trăm năm là mộng con người;
Đâu dè một, hai, ba mươi,
Rủi may một kiếp con người là đây!
Trời Phật ở trên mây cao vọi,
Hoặc Tây Phương giùm rọi chứng tri;
Tu nhứt kiếp ngộ nhứt thì,
Hiến dâng nhiều lễ qui y đủ rồi.
Thương hại thay cho đời mê tín,
Tưởng Phật ưa dua nịnh như đời;
Không lo tu tánh kịp thời,
Nội tâm cải tạo thành người chí nhân.
Hỡi các trẻ gia thân tìm đạo,
Đừng mộng mơ khờ khạo thế ni;
Đạo là thâm diệu vô vi,
Nhứt động nhứt tĩnh đạo tùy hiện thân.
Thi:
Đêm khuya dạy trẻ đã vừa xong,
Lời lẽ khuyên răn với tấm lòng;
Thương bấy con thơ còn dại dột,
Bên đời, bên Đạo cũng chưa thông.
-o-
Ban ơn con trẻ trần hồng,
Thế gian hành Đạo, Diêu Cung Mẹ về.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Mẹ!


MẸ!

Cắt móng tay cho mẹ, chợt nhận ra bàn tay mẹ toàn xương, những lóng tay khô như cọng rạ phơi mất tính hồi sinh.
Bàn tay ấy từng tắm rửa cho con, vỗ vào mông để con tròn giấc ngủ. Áo con lành nhờ bàn tay mẹ. Con đói lòng bàn tay mẹ đút miếng cơm nhai. Giờ hai bàn tay mẹ đã gầy như không còn cách nào gầy nữa.  Mẹ cố xỏ sợi chỉ vào lỗ kim nhưng đầu sợi chỉ cứ đưa qua đưa lại không sao xỏ vào được.
Con thương mẹ vô cùng.
************************
Tốt nghiệp đại học, ở lại thành phố đi làm. Tháng rồi, mẹ vào thăm. Mừng và thương.
Mẹ khen: “Bạn gái con xinh”.
Cuối tháng, lãnh lương, dẫn người thương đi shopping. Em bảo: “Mỹ phẩm của hãng này là tốt nhất.  Những loại rẻ tiền khác đều không nên dùng vì có hại cho da, giống mẹ anh đó, mẹ bị nám hết anh thấy không…”
Chợt giật mình. Mẹ cả đời lam lũ, nắng gió với cái ăn, nào đã biết phấn son tốt xấu màu sắc là gì.
************************
Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ. Hôm nay sau giờ giảng, tôi hát cho các em nghe… “Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng con phải mồ côi…”
Tôi nói với các em: “Chúng ta thật hạnh phúc khi được ở trong vòng tay mẹ”.
Có tiếng khóc ở góc lớp. Tôi đến cạnh em hỏi:
-  Sao con khóc?
-  Con nhớ Mẹ! Đứa bé đáp ngập ngừng.
-  Mẹ đâu?
Nhìn theo tay đứa bé, tôi thấy một người đàn ông nước da đen sạm đang đứng trước cổng trường.
************************
Con đê dài hun hút như cuộc đời.  Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm.  Mẹ bảo:
-  Nhà ngoại ở cuối con đê.  Trên đê chỉ có mẹ, có con.
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
-  Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.  Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
-  Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?
Trời vẫn nắng, vẫn râm... Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
 ************************
Cổng trường ngày thi đông nghẹt thí sinh và phụ huynh.  Những gánh hàng, dãy quán mọc lên san sát trên khoảng đất trống cạnh trường.
"Út, Út, Út ơi!".  Cô học trò lúng túng tách khỏi đám bạn, đi về phía tiếng kêu.
"Ăn đi con. Xôi đậu. Thi sẽ đậu đấy".
"Con ăn rồi. Sao má lại ra đây!".
Cô quày quả vào trường, vội vàng như trốn chạy...
Mùa thi lại về.  Cô giáo trẻ tần ngần trước cổng trường nhộn nhịp.  Giọt nước mắt muộn màng đọng nơi khóe mắt. "Con mãi sẽ không đậu khi chối từ gánh xôi của má. Má ơi!".



************************
Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng làm cua rang muối.  Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. 
Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng con mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:
-  Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng con ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:
-  Còn răng đâu mà ăn?!
************************
Cha kể, cha chỉ ao ước tặng mẹ chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẩm thạch rất đẹp.  Mỗi khi cha định mua, mẹ cứ tìm cách từ chối, lúc mua sữa, lúc sách vở, lúc tiền trường...
Đến khi tay mẹ đen sạm, mẹ vẫn chưa một lần được đeo vòng.  Mấy chị em hùn tiền mua tặng mẹ một chiếc thật đẹp. Mẹ cất kỹ, thỉnh thoảng lại ngắm nghía, cười:
-  Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ nhìn thôi cũng thấy vui.
Mấy chị em không ai bảo ai, nhìn nhau nước mắt rưng rưng.
************************
Hễ nhà có dịp đi dự đám, nó thường vòi vĩnh xin theo. Thấy nhà bạn có giỗ vui vầy, nó thắc mắc với bà: “Sao nhà mình không có giỗ như nhà người ta hả nội?”.
Nội mỉm cười rồi cốc vào đầu nó: “Khi nào bà mất thì cháu sẽ được ăn giỗ, cháu có vui không?”. Nó giật mình, thảng thốt.
Bây giờ nhà nó cũng có giỗ. Mọi người xúm xít quây quần. Riêng nó thấy buồn, ray rứt. Giá mà nó được gặp lại bà, dù chỉ một lần, bà ơi!
************************
"Má! Má lên đây làm gì?".  Cô sinh viên sắp nhận bằng cử nhân giãy nảy lên hỏi người mẹ quê mùa còm cõi.
-  "Má nghỉ bán một bữa lên coi con lãnh bằng tốt nghiệp".
-  "Không được đâu! Bữa nay bạn con đông lắm, mà má lại ăn mặc thế này...".
- "Thì má có còn bộ nào khác đâu.  Thôi cho má vào.  Má...".
 - "Thôi, thôi, má về đi. Con thì thế này, má thì thế kia… Tụi bạn con nó cười…!".
Nói rồi, cô sinh viên xinh đẹp chạy ào vào trong hội trường…
Vừa lúc người xướng tên giới thiệu: "Sinh viên Phạm Thị P.X. là một trong những sinh viên xuất sắc của trường".
Tan Do sưu tầm

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Giải độc cho cơ thể

 

Giải độc cho cơ thể
(Nguyễn Xuân Hòa)

Thói quen ít vận động, thức quá khuya, lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, cà phê…Một chế độ ăn uống bất hợp lí kéo dài,quá nhiều chất béo, chất đạm, đường, một nhịp sống căng thẳng tiềm ẩn những stress, trầm cảm…làm cơ thể ta suy yếu, khả năng đối phó, thanh lọc chất độc bị suy giảm.
Sự nhiễm độc:
Trong cuộc sống hiện đại của chúng ta, con người đang phải đối mặt với nguy cơ nhiễm độc cao. Bầu khí quyển chứa nhiều khí thải đặc biệt  từ công nghiệp và khí thải của các phương tiện giao thông…Nước và thức ăn vào cơ thể cũng chứa nhiều độc tố. Một số địa phương đã bị ô nhiễm nước ngầm nghiêm trọng.
Nước giếng khoan sau khi lọc vẫn chứa hàm lượng A sen (thạch tín ) đáng kể. Thực phẩm chứa dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kháng sinh, tăng trọng các loại. Đất trồng và nước tưới bị ô nhiễm chứa kim loại nặng như chì…lại ngấm vào rau quả. Thức ăn chế biến sẵn  có các phụ gia như hàn the, chất bảo quản, chất tạo màu…Cả ngày, nhiều người phải hít thở trong căn phòng không thông thoáng, đầy mùi thiết bị văn phòng, máy điều hoà và đồ điện tử ... Ngay cả với thuốc Đông y, vốn được sử dụng phổ biến, chưa ai dám đảm bảo tuyệt đối tính an toàn của nó từ khâu sản xuất đến chế biến mà trong đó có nhiều thứ không rõ nguồn gốc. Sau một thời gian dài sử dụng thuốc của Tây y - hoá trị liệu và dù là thuốc bổ cũng có những tác dụng phụ nhất định…
Thói quen ít vận động, thức quá khuya, lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, cà phê… Một chế độ ăn uống bất hợp lý kéo dài, quá nhiều chất béo, chất đạm, đường, một nhịp sống căng thẳng tiềm ẩn những stress, trầm cảm… làm cơ thể ta suy yếu, khả năng đối phó, thanh lọc chất độc bị suy giảm.
Trạng thái mất cân bằng tâm lý nghiêm trọng, lục dục, thất tình thái quá tác động xấu đến cơ thể làm chính chúng ta cũng có thể tự tiết ra … chất độc như câu chuyện về một bà mẹ trong cơn giận dữ cực độ lại cho con bú, gây ngộ độc với đứa trẻ…
Vài hậu quả xấu:
Không kể các trường hợp ngộ độc cấp tính,một lượng nhỏ chất độc sẽ được cơ thể tìm cách đào thải qua đường bài tiết: phân, nước tiểu và qua da. Tuy nhiên, nếu thận và gan không thể làm tròn chức trách, chúng ta sẽ phải chịu hậu quả. Hệ miễn dịch suy yếu làm ta dễ bị cúm và các bệnh ngoài da. Ăn không ngon miệng, bị táo bón, gầy sút hay béo bệu, mất ngủ hoặc ngủ không sâu, hay cáu gắt, bực bội hơn. Chóng  xuống sức, tim đập nhanh, dễ lo lắng hay tưởng tượng mắc một căn bệnh nào đó. Làn da không đẹp, thường thâm đen, mụn nhọt xuất hiện… mà chỉ dựa vào mỹ phẩm e khó lòng khắc phục được. Về lâu về dài chất độc được tích tụ có thể gây những bệnh mãn tính, thậm chí ung thư.
Những biện pháp phòng và giải độc  thường ngày:
Bạn hãy uống đủ nước, không nên chỉ uống khi khát. Lượng nước thích hợp là 1-1,5 lít/ ngày, uống nhiều quá sẽ làm mệt tim, thận và mất vi chất. Nước là một thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, cơ thể đủ nước được khoẻ mạnh hơn, dễ tiêu hoá, hòa loãng nhiều chất độc, đưa chúng ra ngoài cơ thể dễ dàng hơn.
Hãy tăng cường vận động, lao động chân tay một cách vừa sức, tập thể dục, đi bộ là môn thể thao của mọi lứa tuổi.Vận động làm tăng cường trao đổi chất. Nghiên cứu cho thấy, mồ hôi khi vận động chứa nhiều độc tố cặn bã hơn, chứng tỏ vận động thúc đẩy quá trình thải độc của các tế bào. Hít thở sâu nơi không khí trong lành, hất là sáng sớm. Riêng tắm đã là cả một nghệ thuật và phương cách dưỡng sinh hữu hiệu vì da là con đường bài tiết và đưa nhiều tế bào chết ra ngoài. Sau vận động, nghỉ ngơi và tắm đem lại sức khoẻ và sự sảng khoái tuyệt diệu…
Hãy là người tiêu dùng thông thái trong việc lựa chọn và chế biến thực phẩm, người xưa đã nói, bách bệnh tòng khẩu nhập (trăm bệnh theo đường miệng vào). An toàn thực phẩm lại đang là đề tài nóng hiện nay. Ăn rau xanh và hoa quả tươi chứa nhiều chất xơ có tác dụng quét các chất độc khỏi thành ống tiêu hoá. Cháo đậu xanh, bột sắn dây, nước mía, nước ép rau má… rất tốt, chứa nhiều sinh tố, giải độc, giải rượu. Say rượu, nôn mửa là biểu hiện rất rõ của ngộ độc rất hại gan và hệ thần kinh. Nên hạn chế tiệc tùng, mâm cao cỗ đầy chỉ làm khổ bộ máy tiêu hoá. Mỗi ngày uống một cốc sữa vừa cung cấp can xi và dưỡng chất, vừa có công dụng giải độc.
Mỗi tuần có thể ăn một bữa cháo hoặc rau quả giúp các phủ tạng được nhẹ nhàng nghỉ ngơi. Phương pháp nhịn ăn chữa bệnh cũng nên được nhìn nhận khách quan (chúng tôi sẽ nói đến trong một bài khác). Tại Nhật Bản, Giáo sư Oshawa đã đưa ra phương pháp thực dưỡng: ăn cơm gạo lứt (gạo chỉ xay, không xát trắng, vẫn còn vỏ cám) với muối vừng đen có tác dụng phòng chống bệnh ung thư khá hiệu quả.
Cuối cùng, muốn không bị nhiễm độc thì phải giữ cho môi trường sống quanh ta trong sạch. Trước hết là sạch từ nhà ra ngõ, sau rộng hơn là bảo vệ môi trường toàn cầu. Phấn đấu vì một xã hội lành mạnh, không tệ nạn, con người có được một trạng thái tâm lí cân bằng, an toàn, yên vui…
Nguồn: Group dichkinhcanban


Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Làm sao để sống sót thoát khỏi sóng thần?



 Làm sao để sống sót thoát khỏi sóng thần?

(Theo VnMedia) - Người dân Nhật Bản đang phải oắn mình đề chống chọi với thảm họa thiên tai kép động đất kéo theo sóng thần vô cùng dữ dội. Là một trong những quốc gia thường xuyên phải hứng chịu những trận động đất mạnh nên người dân Nhật Bản luôn được chuẩn bị kỹ lưỡng, trong tư thế sẵn sàng chống đỡ với động đất. Mặc dù vậy, họ vẫn không kịp trở tay trước một trận sóng thần lên tới 10 mét kéo theo sau trận động đất mạnh 8,9 độ richte.
Thiệt hại do sóng thần là vô cùng lớn, cả về người và của.
Từ bài học của Nhật Bản và nhiều quốc gia đã từng phải hứng chịu những trận sóng thần kinh hoàng, chúng ta hãy chuẩn bị sẵn tinh thần nếu không may nằm trong “tâm sóng thần”.
1. Tìm hiểu về nguy cơ sóng thần có thể xảy ra ở nơi bạn sinh sống:
Điều quan trọng là bạn phải biết liệu nơi bạn đang sinh sống có nằm trong khu vực có nguy cơ xảy ra sóng thần hay không. Bạn có thể gặp nguy nếu:
- Nhà bạn, trường học hay nơi làm việc của bạn nằm trên một thành phố ven biển.
- Thang máy của nhà bạn, trường học hay nơi làm việc của bạn nằm ngang mực nước biển hoặc thậm chí thấp hơn mực nước biển.
- Có cảnh báo về dấu hiệu sắp xảy ra sóng thần ở nơi bạn sinh sống.
- Sóng thần đã từng tấn công khu vực bạn đang sinh sống trong quá khứ.
2. Luôn chuẩn bị tư thế sẵn sàng:
Nếu khu vực bạn sinh sống nằm trong “cảnh báo đỏ”, hay chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc sơ tán với một gói hành lý an toàn.
- Sắp sẵn một “balo an toàn” gồm có thực phẩm, nước và các nhu yếu phẩm cẩn thiết như quần áo ấm, phao, chăn màn và đừng quên bộ đồ sơ cứu. Để chúng ở một nơi dễ tìm kiếm trong nhà để khi thảm họa xảy ra, các bạn có thể dễ dàng “khăn gói lên đường".
- Sắp sẵn một “balo thoát hiểm cá nhân” cho mỗi người trong gia đình và một “balo” đại những đồ dùng chung cho cả gia đình. Và cũng đừng quên chuẩn bị đồ cho những vật nuôi thân thiết của bạn nhé.
- Lên kế hoạch sơ tán cụ thể và rõ ràng cho cả gia đình.
3. Lắng nghe những thông tin dự báo thời tiết:
Đó là điều vô cùng quan trọng để xác định sóng thần sắp ập tới hay chưa để tiến hành một cuộc sơ tán kịp thời. Hãy tự trách nhiệm với bản thân để bảo vệ chính bạn và người thân an toàn. Những cảnh báo mà bạn cần lưu tâm:
- Một trận động đất. Nếu bạn sống ở vùng biển thì hãy nhanh chóng chuẩn bị cho một cuộc sơ tán.
- Mực nước biển lên xuống nhanh chóng. Nếu bờ biển đột nhiên lùi ra xa, thì đó chính là một cảnh báo nguy hiểm báo hiệu một con sóng lớn sắp ập vào bờ.
- Hãy quan sát hành vi của động vật. Nếu thấy động vật chạy tán loạn về phía nhà dân tìm nơi ẩn nấp hoặc túm thành đàn lớn thì đó cũng là một dấu hiệu cho thấy điềm xấu về thiên tai sắp xảy ra.
5. Lắng nghe những cảnh báo từ cộng đồng và chính phủ:
Lắng nghe những thông tin chính thống, đáng tin cậy và truyền đạt chúng cho người thân, bạn bè, hàng xóm, cộng đồng, tóm lại là những người đang ở gần bạn khi đó.
6. Sẵn sàng hành động:
Nếu nguy cơ cao xảy ra sóng thần tại khu vực bạn đang sống thì còn chần chừ gì nữa, hay nhanh chóng hành động. Hãy thực thi Kế hoạch Sơ tán của mình. Kế hoạch sơ tán sẽ bao gồm:
- Rời xa ngay những vùng nước. Di chuyển vào đất liền và những nơi có địa thế cao ví như đồi núi. Luôn quay lưng về phía biển và tiến thằng về phía đất liền.
- Nếu bạn không kịp vào đất liền hoặc lên các vùng đất cao thì ngay lập tức hãy “trèo thật cao”.  Bạn có thể leo lên nóc của các tòa nhà hay leo lên chính mái nhà bạn.
- Còn nếu ngộ nhỡ, trên đường đi sơ tán, gặp rắc rối, bạn không thể đến những vùng đất cao trước khi sóng thần ập tới, không còn cách nào khác, bạn có thể tìm một cái cây thật cao thật khỏe để leo lên trú ngụ. Lưu ý là càng leo được cao càng tốt nhé!
7. Phản ứng thật nhanh nếu bạn gần bị “con sóng dữ” đuổi kịp:
Nếu không may bạn không kịp có những biện pháp sơ tán, thì khi sóng thần ập tới, có một số điều bạn cần làm ngay lập tức để tự cứu mình khỏi bị sóng thần cuốn trôi: Bám thật chặt vào một vật gì đó có thể nổi trên mặt nước để giúp bạn không bị dòng nước nhấn chìm. Những vật có khả năng nổi có thể là một khúc cây, ván gỗ, cánh cửa, vật dụng câu cá hay thậm chí cả mái nhà… Tóm lại là những thứ có thể cùng bạn “lênh đênh” trên dòng nước.
8. Hãy bỏ lại của cải:
Hãy quên của cải đồ đạc đi nhé! Hãy cứu sống tính mạng của mình. Bạn sẽ đánh mất cuộc sống quý giá của mình nếu cố “vơ vét” những đồ có giá trị. Điều đó có thể sẽ “giết chết” bạn. Khi tai họa ập tới thì tình mạng con người phải được ưu tiên hàng đầu vì “Còn người là còn của”.
Khi ấy, thứ quan trọng nhất cần tìm là “balo an toàn” cho bạn và gia đình bạn.
9. Hãy ẩn náu ở nơi an toàn cho tới khi những cơn sóng dữ đã hoàn toàn đi qua:
Hãy ở yên vị trí an toàn cho tới khi sóng dự thật sự đã đi qua. Đừng nóng  vội vì có thể sau động đất và sóng thần còn có thể xảy ra dư chấn và những đợt sóng thần khác có cường độ còn mạnh hơn gấp bội.
Đan Khanh - (Tổng hợp)

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Một tô mì


Một Tô Mì

Tối hôm đó Sue cãi nhau với mẹ, rồi không mang gì theo cô đùng đùng ra khỏi nhà. Trong lúc đang lang thang trên đường phố, cô mới nhớ ra rằng mình chẳng có đồng bạc nào trong túi, thậm chí không có đủ mấy xu để gọi điện về nhà.
Cùng lúc đó cô đi qua một quán mì, mùi thơm bốc lên ngào ngạt làm cô chợt cảm thấy đói ngấu. Cô thèm một tô mì lắm nhưng lại không có tiền!
Người bán mì thấy cô đứng tần ngần trước quầy hàng bèn hỏi:
- "Này cô bé, cô có muốn ăn một tô không?"
- "Nhưng... nhưng cháu không mang theo tiền..." - cô thẹn thùng trả lời.
- "Được rồi, tôi sẽ đãi cô - người bán nói - Vào đây, tôi nấu cho cô một tô mì".
Mấy phút sau ông chủ quán bưng tới cho cô một tô mì bốc khói. Ngồi ăn được mấy miếng, Sue lại bật khóc.
- "Có chuyện gì vậy?" - ông ta hỏi.
- "Không có gì. Tại cháu cảm động quá!" - Sue vừa nói vừa lấy tay quẹt nước mắt.
- "Thậm chí một người không quen ngoài đường còn cho cháu một tô mì, còn mẹ cháu, sau khi cháu cự cãi đã đuổi cháu ra khỏi nhà. Chú là người lạ mà còn tỏ ra quan tâm đến cháu, còn mẹ cháu... bả ác độc quá!" - cô bé nói với người bán mì...
Nghe Sue nói, ông chủ quán thở dài: 
- "Này cô bé, sao lại nghĩ như vậy? Hãy suy nghĩ lại đi.  Tôi mới chỉ đãi cô có một tô mì mà cô đã cảm động như vậy.  Còn mẹ cô đã nuôi cô từ khi cô còn nhỏ xíu, sao cô lại không biết ơn, mà lại còn dám cãi lời mẹ nữa?"
Sue giật mình ngạc nhiên khi nghe điều đó.
- "Tại sao mình lại không nghĩ ra nhỉ?  Một tô mì của người lạ mà mình cảm thấy mang ơn, còn mẹ mình đã nuôi mình hàng bao năm qua mà thậm chí mình chưa bao giờ tỏ ra quan tâm đến mẹ, dù chỉ một chút, mà chỉ vì một chuyện nhỏ mình lại cự cãi với mẹ".
Trên đường về cô thầm nghĩ trong đầu những điều cô sẽ nói với mẹ: "Mẹ ơi, con xin lỗi. Con biết đó là lỗi của con, xin mẹ tha thứ cho con..."
Khi bước lên thềm cửa, cô thấy mẹ đang mệt mỏi và lo lắng vì đã tìm kiếm cô khắp nơi. Nhìn thấy Sue, mẹ cô nói:
- "Sue, vào nhà đi con.  Chắc con đói bụng lắm rồi phải không?  Cơm nước mẹ nấu xong nãy giờ rồi, vào mà ăn ngay cho nóng..."
Không thể kềm giữ được nữa, Sue òa khóc trong tay mẹ.

------------------------------------------------------------------
"Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta dễ cảm kích những hành động nhỏ mà một số người chung quanh làm cho chúng ta, nhưng đối với những người thân thuộc, nhất là cha mẹ, chúng ta lại xem sự hy sinh của họ là sự đương nhiên..."
Tình yêu và sự quan tâm lo lắng của cha mẹ là món quà quý giá nhất mà chúng ta được tặng từ khi mới chào đời.
Cha mẹ không mong đợi chúng ta trả công nuôi dưỡng, nhưng ... liệu có bao giờ chúng ta biết quý trọng sự hy sinh vô điều kiện này của cha mẹ chúng ta chưa?
Tan Do sưu tầm.

Góp phần làm sáng tỏ lịch sử Đạo Cao Đài


Quý anh chị em vào đường link sau để cùng tham khảo một công trình nghiên cứu rất công phu và có tính thuyết phục cao của Đạo Huynh Đạt Tường về những nhận định nhằm “Góp phần làm sáng tỏ lịch sử Đạo Cao Đài”:


Sau khi đọc xong tập tài liệu này, quý anh chị em sẽ gặt hái được nhiều điều bổ ích về tiến trình khai đạo do Ơn Trên khai mở và sẽ có thêm những kiến thức về sử đạo rất cụ thể mà trước giờ mình chưa từng nghe qua hoặc chưa được hiểu rõ ràng cho lắm.

Chánh Tuân.

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát trong Tam Kỳ Phổ Độ


Đức Nhị Trấn Oai Nghiêm
Quan Thế Âm Bồ Tát

Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát nhận biết được tiếng kêu cứu của chúng sanh nơi cõi trần, Ngài liền hiện đến để cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.
Do đó, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát còn được gọi là: Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát, hay gọi vắt tắt là: Quan Âm Bồ Tát hay Quan Âm Như Lai.
Ngài là một vị Nữ Phật, nhưng còn mang danh hiệu Bồ Tát là vì Ngài còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh.
Phật giáo Tây Tạng gọi Ngài là Quán Thế Âm Phật, là vị Phật Nam, hộ trợ xứ Tây Tạng. Người Tây Tạng đều tin rằng, chính Ngài chuyển hóa vào thân Đức vua Đạt-Lai-Lạt-Ma cai trị xứ Tây Tạng, nên dân Tây Tạng xem Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là vị Phật sống của họ.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có một hiện thân gồm 11 cái mặt, 1000 cánh tay, 1000 con mắt, có 108 hồng danh. Ngài ngự tại Đền Potala nơi kinh đô xứ Lhassa, Tây Tạng.
Ở Trung Hoa và Việt nam, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật do hai truyện tích: Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện.
Bất cứ hạng người nào trong chúng sanh, khi bị lâm nguy tánh mạng, như gặp phải tai nạn lửa cháy, tai nạn chìm tàu, bị cướp hãm hại, bị tra khảo, tù đày oan ức, v.v.... nếu thành tâm niệm danh hiệu của Ngài để cầu cứu thì Ngài liền hiện đến mà cứu giúp cho tai qua nạn khỏi.
Trong Đạo Cao Đài, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, đại diện Đức Phật Thích Ca, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.
Trên tấm diềm phía trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, gần bìa phía tay mặt của Đức Lão Tử, thuộc bên Nữ phái.
Nơi Thánh Tượng Thiên Nhãn thờ tại tư gia, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, hình Ngài ở phía mặt của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Thái Thượng Lão Quân.
Trong LUẬT TAM THỂ, Bát Nương có giáng cơ dạy rằng:
"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ Phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên."
Trong Truyện Tây Du Ký, hình ảnh của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát được mô tả như sau:
"Bốn đức tròn viên mãn, Thân vàng tỏa sáng thông,
Chuỗi ngọc biếc rũ cạnh, Vòng thơm đeo bên mình.
Tóc mây uốn đen lánh, Đài thêu thắt ngang lưng,
Bào trắng khuy ngọc bích, Mây lành che quẩn quanh.
Quần gấm dây vàng óng, Khí đẹp phủ quanh thân,
Lông mày vầng trăng khuyết, Mắt vì sao long lanh.
Mặt ngọc tươi roi rói, Môi đỏ thắm tuyệt trần,
Bình Cam lồ đầy ắp, Cắm cành dương liễu xanh,
Độ chúng sanh thoát nạn, Rất từ bi hiền lành.
Vậy nên: Giữ núi Thái sơn, Coi miền Nam hải,
Độ người khổ ải, Nghìn Thánh nghìn thiêng,
Muôn kêu muôn ứng.
Lòng lan vui khóm trúc, Tánh huệ quí mây thơm.
Đó là vị Chúa Từ bi ở Phổ Đà Sơn,
Chính là Đức Quan Âm nơi An Nhàn Động."
Theo các kinh sách truyền lại, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có 33 kiếp giáng trần, khi thì làm nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì giáng sanh vào nơi cao sang quyền quí, khi thì vào nơi bần cùng nghèo khổ, khi thì làm Đạo sĩ, khi thì làm Tỳ Kheo, v.v....


Có hai kiếp giáng trần làm phụ nữ của Ngài được người đời truyền tụng:
- Đó là kiếp thứ 10: Ngài giáng trần làm nàng Thị Kính ở nước Cao Ly, tu hành đắc đạo, gọi là Quan Âm Thị Kính.
- Kiếp giáng trần sau chót ở nước Ấn Độ là Công Chúa Diệu Thiện, cũng tu hành đắc đạo tại Phổ Đà Sơn ở Nam Hải, nên gọi là Quan Âm Diệu Thiện.

Sau đây xin chép lại hai sự tích nổi tiếng nầy:

Sự tích 1: QUAN ÂM THỊ KÍNH
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã đầu thai xuống trần tu hành được 9 kiếp rồi, đến kiếp thứ 10, Ngài giáng sanh vào nhà họ Mãng ở nước Cao Ly (Triều Tiên). Hai ông bà họ Mãng đã lớn tuổi rồi, nhà lại giàu có, nhưng chưa có con. Ngày kia, hai vợ chồng lên chùa cầu tự, sau đó có thai và sanh được một gái, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang, đặt tên là Thị Kính.
Khi nàng Thị Kính đến tuổi cặp kê, gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng, cậy mai mối đến hỏi cưới Thị Kính. Vợ chồng Mãng Ông thấy phải đôi vừa lứa nên bằng lòng gả Thị Kính cho Thiện Sĩ.
Nàng Thị Kính rất buồn bã vì phải về ở nơi nhà chồng, không ai săn sóc cha mẹ. Cha mẹ nàng an ủi: Cha mẹ sanh con gái đến tuổi khôn lớn gả chồng, làm đẹp mày đẹp mặt cho cha mẹ là đủ rồi. Vả lại, nhà bên chồng của con cũng ở gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện.
Từ khi về nhà chồng, Thị Kính giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong ấm ngoài êm, ai nấy đều khen ngợi.
Một ngày kia, nàng đang ngồi may vá, chàng Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, đến gần chỗ nàng ngồi may nằm nghỉ và ngủ quên. Nàng thấy nơi cằm chồng có mọc sợi râu bất lợi, nên sẵn cầm dao nhíp nơi tay, nàng đưa dao cắt đứt. Bỗng chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ đang cầm dao đưa ngay vào cổ mình, vụt la hoảng: Vợ tôi muốn giết tôi.
Trong nhà vỡ lỡ, cha mẹ chồng chạy ra gạn hỏi, nàng cứ tình thiệt trình bày. Không ngờ cha mẹ chồng quá nghiêm khắc, bắt tội nàng mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ phải làm tờ thôi vợ, rồi cho mời Mãng Ông tới để lãnh con gái về.
Nàng Thị Kính phải mang mối hàm oan, đành lạy từ cha mẹ chồng, theo Mãng Ông trở về nhà. Nàng buồn bã muôn phần, một là buồn cho số phận xui xẻo, hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não. Nàng than rằng: Nếu nàng có anh em đông thì nàng đành quyên sinh để khỏi mang tiếng nhơ như thế.
Nhưng vì nàng là con một, nên nàng không dám hủy mình, sợ mang tội bất hiếu, mà ở như thế nầy thì cũng rất khổ tâm, cho nên nàng quyết định xuất gia, lo tu hành cho đắc đạo, rồi sẽ trở về độ cha mẹ.
Nàng lén cải trang thành một nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi, đến một ngôi chùa nọ thì gặp Sư cụ đang thuyết pháp. Nàng thấy Sư cụ là bực chơn tu, nên xin Sư cụ cho thọ pháp qui y.
Sư cụ gạn hỏi nhiều lần, vì Sư cụ thấy trang thiếu niên nầy còn trẻ quá mà sao lòng chán đời, đến nương nhờ cửa Phật, gột rửa lòng phàm. Sư cụ thấy lòng thành và chí quả quyết của người thiếu niên, nên cho thọ pháp qui y, đặt Pháp danh là Kỉnh Tâm, và nhận Kỉnh Tâm làm đệ tử.
Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai, nên dung mạo đẹp đẽ, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhứt là nàng Thị Mầu, con của một vị trưởng giả giàu có ở vùng ấy. Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo Sãi Kỉnh Tâm, đưa lời ong bướm, nhưng Kỉnh Tâm vẫn trơ trơ như không hay biết. Thị Mầu quá si mê Kỉnh Tâm, trong một lúc quá bồng bột, không kềm giữ được lòng dục, nàng tư thông với đứa tớ trai của nàng, khiến nàng có thai.
Làng xã thấy nàng Thị Mầu không chồng mà có thai, nên gọi nàng và cha mẹ nàng đến tra hỏi. Nàng khai rằng, nàng có tư tình với Sãi Kỉnh Tâm nên mới ra cớ sự, và xin làng rộng tình cho Kỉnh Tâm hoàn tục kết duyên với nàng.
Trống mõ inh ỏi, cửa Thiền xưa nay êm lặng, phút chốc trở nên huyên náo, người làng đến đòi Sư Ông và Sãi Kỉnh Tâm ra làng dạy việc. Thầy trò không biết việc gì, cùng dắt nhau đi, đến nơi mới hay tự sự.
Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao cứ khai thiệt. Kỉnh Tâm một mực kêu oan, chớ không dám nói điều chi khác nữa.
Kỉnh Tâm bị làng đem ra tra tấn, đòn bộng, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng Kỉnh Tâm vẫn một mực kêu oan. Sư Cụ động mối từ tâm, đứng ra xin bảo lãnh cho trò để đem về khuyên nhủ dạy răn.
Thấy thế, Hương chức làng cũng niệm tình ưng thuận.
Sau đó Sư Cụ bảo Kỉnh Tâm phải ra ngoài cổng Tam quan của chùa mà ở để tránh tiếng không tốt cho chùa.
Thời gian trôi qua, Thị Mầu sanh được một đứa con trai, nàng liền bồng đứa hài nhi đến cổng chùa giao cho Sãi Kỉnh Tâm, nói rằng: Con của ngươi thì đem trả cho ngươi.
Sãi KỉnhTâm đang tụng kinh, đứa hài nhi bị bỏ dưới đất, giãy giụa khóc la. KỉnhTâm nghe tiếng trẻ khóc, động mối từ tâm, chẳng cần dư luận, bèn ra ẵm đứa bé đem vào nuôi dưỡng.
Sư Cụ trách Kỉnh Tâm: Trước kia, con nói con bị hàm oan, mà nay con lại nuôi đứa bé nầy, chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa, huống chi là ai.
Kỉnh Tâm bạch rằng: Bạch Sư phụ, khi xưa Sư phụ có dạy đệ tử rằng, cứu đặng một người thì phước đức hà sa. Đệ tử vâng theo lời thầy nên mới cứu mạng đứa bé nầy, chớ kỳ thật con không có ý chi hết.
Đứa trẻ càng lớn càng giống Kỉnh Tâm như hệt, lại có vẻ thông minh. Khi đứa bé được 3 tuổi thì Kỉnh Tâm lâm trọng bịnh, biết mình sắp lìa trần theo Phật, nên Kỉnh Tâm ráng ngồi dậy viết hai bức thơ: một gởi cho Sư Cụ, hai gởi cha mẹ ruột, ông bà họ Mãng, rồi dặn kỹ hài nhi làm đúng theo lời dặn.
Khi Sãi Kỉnh Tâm tắt hơi, đứa bé kêu cha khóc lóc một hồi, rồi nhớ lời cha dặn, liền đem thư vào đưa cho Sư Cụ.
Sư Cụ mở thư ra, xem xong trong lòng rất bùi ngùi thương tiếc, sai vài vị Ni cô ra khám xét thi thể của Kỉnh Tâm, thì rõ ràng Kỉnh Tâm là gái giả trai.
Tin Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai được truyền đi mau lẹ trong làng, làm mọi người hết sức ngạc nhiên.
Hương Chức trong làng đòi Thị Mầu tới, buộc tội cáo gian, phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho Kỉnh Tâm.
Thị Mầu quá xấu hổ, bèn liều mình quyên sinh.
Đến ngày an táng Sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, mọi người đều nhìn thấy Đức Phật ngự tòa sen hiện ra ở trên mây, rước hồn của nàng Thị Kính về cõi Tây phương.
Chàng Thiện Sĩ rất ăn năn hối lỗi, nên phát nguyện tu hành. Tục truyền rằng, Đức Quan Âm Bồ Tát nhận thấy chàng Thiện Sĩ thật tâm hối lỗi và quyết chí tu hành, nên hiện đến cứu độ, đem về Nam Hải, hóa thành một con chim đậu một bên Đức Quan Âm Bồ Tát, mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề.
Quan Âm Bồ Tát cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, đứng hầu bên Ngài.
Do đó, người ta họa hình Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chấp tay đứng hầu.
Đó là lấy theo sự tích Quan Âm Thị Kính.
 
Sự tích 2: QUAN ÂM DIỆU THIỆN hay QUAN ÂM NAM HẢI.
Theo sự khảo cứu của học giả De Groot, người Hòa Lan, kiếp chót của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là Công Chúa Diệu Thiện, con của vua Linh Ưu nước Hưng Lâm, một Tiểu quốc của Ấn Độ, ở về phía Đông Ấn Độ.
Từ ngày nhà vua lên ngôi đến nay đã 40 năm mà Hoàng Hậu Bửu Đức không hạ sanh được một vị Hoàng tử nào. Nhà vua cùng Hoàng Hậu đi lên núi Huê sơn cầu tự. Trên núi Huê sơn có một vị Thần rất linh hiển, ai cầu chi được nấy. Cầu tự xong, ít lâu sau, Hoàng hậu có thai, sanh đặng một Công Chúa, đặt tên là Diệu Thanh. Sau đó lại tiếp tục có thai sanh thêm hai nàng Công Chúa nữa là: Diệu Âm và Diệu Thiện; không sanh được một Hoàng Tử nào.
Ba nàng Công Chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho hai chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, với hai vị quan trẻ tuổi và tài giỏi trong triều đình;
còn nàng con gái út Diệu Thiện thì nhứt định không chịu lấy chồng, mà lại còn có ý xin phép vua cha và mẫu hậu xuất gia tu hành.
Vua Linh Ưu tức giận, đày Diệu Thiện vào trong Hoa Viên lo việc gánh nước tưới hoa, làm các công việc cực khổ; đồng thời cho người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nhưng nàng nhứt định cam chịu khổ chớ không từ bỏ ý định tu hành.
Thấy vậy, Hoàng Hậu rất đau lòng, liền xin với vua Linh Ưu cho Diệu Thiện vào chùa Bạch Tước tu hành.
Nhà vua chấp thuận, và ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa bắt Diệu Thiện làm các công việc nặng nhọc vất vả, để nàng không chịu nổi mà sớm trở về Cung nội.
Diệu Thiện, tâm vẫn cương quyết, làm đầy đủ các bổn phận, dầu rất cực khổ, nhưng không một tiếng than, và luôn luôn lo việc tu hành.
Nhà vua thấy cách nầy thất bại, nên nghĩ ra cách sai lính đốt chùa, để Diệu Thiện không còn nơi tu hành, phải trở về Cung nội. Quân lính phóng hỏa khắp bốn mặt, các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, riêng DiệuThiện vẫn điềm tỉnh, nàng lâm râm cầu nguyện, rồi lấy cây trâm chích vào lưỡi, ngước mặt phun máu lên không, tức thì mây đen hiện ra, mưa tuôn xối xả, dập tắt hết các ngọn lửa. Quân lính đều hết sức kinh ngạc.
Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi, để làm cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại bởi Đạo tâm vững chắc của nàng con gái út.
Nhà vua quá tức giận vì không thực hiện được ý mình, nên ra lịnh tối hậu cho nàng Diệu Thiện chọn một trong hai điều: một là phế việc tu hành, lo bề gia thất; hai là chịu xử trảm vì cãi lịnh vua cha.
Nàng Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không chịu bỏ việc tu hành.
Thần Hoàng Bổn Cảnh vội vã bay về Trời tâu trình Thượng Đế, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần mau trở về bảo hộ nàng Diệu Thiện.
Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém xuống thì đao liền gãy nát; lại lấy cung tên đặng bắn cho chết thì khi mũi tên gần tới Diệu Thiện thì mũi tên bị gãy nát. Thấy không giết được Diệu Thiện bằng hai cách trên, kẻ hành quyết liền dùng hai bàn tay đến siết cổ Diệu Thiện.
Bỗng đâu cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, thiên ám địa hôn, một đạo hào quang bay đến bao phủ nàng Diệu Thiện, rồi Thần Hoàng hóa thành một con hổ lớn cõng Công Chúa Diệu Thiện chạy bay vào rừng. Các quan giám sát cuộc hành quyết bị một phen hoảng vía, trở về triều báo cáo lại với vua Linh Ưu tất cả các việc.
Nhà vua không chút nao núng phán rằng: Công Chúa mang tội bất hiếu nên bị cọp tha mất xác cho đáng kiếp.
Công Chúa Diệu Thiện bất tỉnh, hồn Công Chúa thấy một vị Sứ giả mặc áo xanh, tay cầm tờ giấy nói rằng: Diêm Vương mời nàng xuống Diêm Cung để xem các cảnh khổ não và những hình phạt nặng nề những linh hồn mà trong kiếp sanh đã làm nhiều điều ác độc.
Thập Điện Diêm Vương cũng muốn nghe nàng thuyết pháp. Công Chúa vâng lịnh, dùng tâm từ bi và sức thần thông thuyết pháp cho 10 vua nghe, các tội hồn trong ngục cũng được nghe và liền giác ngộ. Trong phút chốc, chốn U Minh thành Lạc Cảnh, và các tội hồn đều được thoát ra khỏi ngục, đầu kiếp trở lại cõi trần.
Thấy các cửa ngục đều trống trơn, Thập Điện Diêm Vương vội đưa hồn Diệu Thiện trở lại dương thế và cho nhập vào xác. Nàng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.
Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra trên mây, bảo nàng hãy đi ra biển Nam Hải, đến núi Phổ Đà, tu hành thêm một thời gian nữa thì sẽ đắc đạo, đạt vị Như Lai. Muốn đi đến đó, phải trải qua 3000 dặm đường. Đức Phật Nhiên Đăng lại tặng cho nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm mà còn được trường sanh bất lão.
Nàng Diệu Thiện nhận lãnh và bái tạ Đức Phật, đoạn nàng tìm đường đi đến Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền cho Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn cho mau lẹ.
Tại Phổ Đà Sơn, nàng Diệu Thiện tu thiền định trong 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu.
Ngày 19 tháng 2 năm ấy, là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện. Chư Thần,Thánh,Tiên, Phật, đến chúc mừng và xưng tụng vị Bồ Tát mới đắc đạo. Công Chúa ngự trên tòa sen, hào quang sáng lòa, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lúc ấy chư Thánh muốn lựa một đồng tử để theo hầu Ngài, thì may đâu lúc đó có một vị tên là Hoàn Thiện Tài, mồ côi cha mẹ, phát nguyện tu hành, qui y Phật pháp, nhưng chưa chứng quả, nay nghe nơi Phổ Đà Sơn có một vị Bồ Tát mới đắc đạo, nên xin đến hầu Ngài.
Trước khi chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, Đức Quan Âm muốn thử xem tâm chí của Thiện Tài ra sao. Ngài truyền cho Sơn Thần Thổ Địa hóa làm ăn cướp đến bắt Ngài, Ngài giả bộ sợ sệt kêu la cầu cứu và ngã té xuống hố sâu. Thiện Tài chạy đến cứu thầy, và nhảy theo xuống hố. Thiện Tài thiệt mạng, chơn hồn liền xuất ra khỏi xác, đến hầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và được thâu làm đệ tử.
Về sau, Đức Quan Âm Bồ Tát thâu thêm Long Nữ, con gái của Đệ Tam Thái Tử của Long Vương Nam Hải, làm đệ tử.
Nguyên ngày kia, Long Nữ hóa làm con cá đi dạo chơi trên mặt biển, chẳng may bị một ông chài bắt được. Ông đem cá ấy ra chợ bán. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một người thường, đi ra chợ hỏi mua con cá ấy, rồi đem ra biển Nam thả xuống.
Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử cháu nội của mình, nên dạy Long Nữ đem một cục ngọc quí Dạ Minh Châu đến dâng Bồ Tát để Bồ Tát đọc sách ban đêm mà không cần đèn.
Long Nữ đến dâng ngọc xong, lòng hết sức cảm phục Bồ Tát, nên xin qui y và được Bồ Tát thâu làm đệ tử.
Từ ấy, Thiện Tài đồng Tử và Long Nữ luôn luôn theo bên cạnh để lo phụng sự Bồ Tát.
Nhắc lại, từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, và Diệu Thiện được Thần Hoàng cứu thoát, nhà vua mắc một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, thân thể nhà vua bị lở loét ngoài da cùng mình, mùi hôi thối xông ra nồng nặc, nhức nhối đau đớn vô cùng. Nhiều danh y tới điều trị mà bịnh vẫn không thuyên giảm chút nào.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải hay biết việc đó, nên Ngài hóa ra một vị sư già, đi đến kinh thành xin vào trị bịnh cho vua Linh Ưu.
Sau khi xem mạch vua, vị sư già tâu: Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày, nên phát sanh ra ngoài da thành bịnh nan y.
Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một người con thì mới chế thuốc được.
Nghe vậy, nhà vua cho đòi hai Công chúa Diệu Thanh, Diệu Âm và hai Phò mã đến, rồi nhà vua lập lại lời nói của vị sư già, hỏi xem có đứa con nào dám hy sinh để trị bịnh cho vua cha không?
Hai Công chúa cùng tâu: Xin Phụ vương đừng nghe lời ông sãi nầy, bởi vì một người bị khoét đôi mắt và bị chặt hết hai tay thì dù có sống cũng chẳng ra chi. Chẳng lẽ cứu bịnh một người mà lại hủy hoại một người khác hay sao?
Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa út là Diệu Thiện, liền than: Nếu Diệu Thiện còn sống thì Trẫm ắt lành bịnh, vì Diệu Thiện sẽ hy sinh cho Trẫm.
Vị Sư già liền tâu: Tâu Bệ hạ, Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện hiện vẫn còn sống, ở tại núi Phổ Đà, biển Nam Hải. Xin Bệ hạ cho người đi đến đó, tìm Công chúa thì may ra chế được thuốc cho nhà vua. Bần tăng xin để thuốc lại đây, khi nào có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện đem về thì nhập với thuốc nầy, nấu chung lại, rồi trong uống, ngoài thoa, bịnh của Bệ hạ sẽ hết ngay.
Vị Sư già nói xong thì từ giã nhà vua trở về núi.
Vua Linh Ưu rất mừng, liền cho sứ giả sắp đặt hành trang lên đường đi Nam Hải, tìm Công chúa Diệu Thiện. Khi sứ giả đến được Phổ Đà Sơn thì gặp một đồng tử bưng ra một cái mâm phủ vải trắng còn thấm máu tươi, trong đó có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện, đem ra trao cho sứ giả và nói:
Đây là đôi mắt và hai cánh tay của Công chúa Diệu Thiện, sứ giả hãy mau đem về chế thuốc trị bịnh cho vua.
Hoàng Hậu khi nhìn thấy sứ giả đem đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện về, còn dính máu tươi thì òa lên khóc mướt. Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị Sư già để lại, cho nhà vua uống phân nữa, còn phân nữa để thoa lên khắp mình mẩy, phút chốc, thân thể nhà vua lành lặn như xưa, hết đau nhức, mà lại còn cảm thấy khỏe khoắn hơn trước.
Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm mến ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình, gặp không biết bao nhiêu nguy hiểm, nhưng đều được Quan Âm Bồ Tát dùng thần thông cứu khỏi.
Đến nơi, vua Linh Ưu và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát đang ngự trên tòa sen, nhưng mất cả hai cánh tay và hai con mắt. Vua biết đó là Công chúa Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối lỗi lầm, rồi đồng quì xuống cầu nguyện cùng Trời Phật xin cho Công chúa được lành lặn như xưa.
Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu có kết quả, Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với đầy đủ hai tay và hai mắt như lúc trước.
Lúc ấy, vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn Thiền môn, lo tu hành cầu giải thoát.

Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:
Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.
TNHT. I. 31:
"Người ta gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương." (Nhà Thương bên Tàu khởi đầu từ năm 1766 và dứt vào năm 1122 trước TL).
Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nhân ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, tại Đền Thánh, thời Tý ngày 19-2-Kỷ Sửu (1949), cũng có nói như sau:
"Hôm nay là ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Bần đạo đã thường nói, nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng và oai quyền hơn hết.
Cái nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất....."
Do đó, trong Kinh Đệ Bát Cửu có câu:
"Cung Tận Thức thần thông biến hóa,
Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng."

Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Đức Từ Hàng Bồ Tát chiết chơn linh giáng trần, tu hành nhiều kiếp, cuối cùng đắc đạo tại Phổ Đà Sơn, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trong con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Vương Di-Lạc
"Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."
"Bần đạo chỉ nói nơi xa xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình trạng Bát Quái Đài, dưới chân có Thất Đầu Xà, và dưới mình của Thất Đầu Xà là Khổ hải, tức là cảnh trần của chúng ta đó vậy.
Bên kia, có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân hà, rồi Bần đạo chỉ cho hiểu rằng, từ Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua Ngân hà, có một chiếc Thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chèo qua lại sông Ngân hà và Khổ hải đặng độ sanh thiên hạ."
Các Hội Thánh của Đạo Cao Đài chọn ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện làm ngày Vía Kỷ niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại Đàn cúng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức và nhiệm vụ của Ngài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
KINH CỨU KHỔ là bài kinh đặc biệt cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sanh.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ ban cho hai bài Kinh Thiên đạo là:
Kinh Hạ Huyệt
Kinh Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường.
Trong TNHT, có đăng nhiều bài Thánh giáo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Mặt khác, trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, cũng có một bài Thánh giáo của Ngài, xin trích ra sau đây:
Đêm mùng 2 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).
THI:
Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì,
Lục nhựt đạo thành hiệp nhứt chi.
Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại,
Nhị nhơn thê mộc diệt nguyên qui.
Giải rõ thi chiết tự:
Nghe ta giải, khá chép mỗi hàng là 12 chữ:
Hai mươi, chữ Nhựt, chữ Giai hiệp chữ Kiến là chữ: QUAN
Chữ Lục hiệp với chữ Nhứt và chữ Nhựt là chữ: ÂM
Chữ Thứ mà bỏ bớt chữ Tâm còn lại chữ: NHƯ
Chữ Mộc mà thêm vô 2 chữ Nhơn gọi là chữ: LAI
DIỄN DỤ:
Phàm làm người ở thế gian, một kiếp phù sanh, nghĩ lại chẳng bao lâu, tuy số định trăm năm chớ ít người bảy chục, còn e hai nẻo rủi may: Đường may là người nhờ kiếp làm quan trung quân ái quốc, giữ tánh thanh liêm, dạy dân lễ nghĩa, hồi đầu tỉnh ngộ lo tu, đời sau hưởng phước; còn gặp đường rủi là: làm quan chẳng dạ ngay vua, mạnh thế lộng quyền, hữu hoài soán nghịch chi tâm, chẳng giữ thanh liêm, hiếp dân, thâu hối lộ làm giàu, bức hiếp kẻ nghèo mà làm cự phú, chác sự oan gia trái chủ, thời phải bị sanh liễu hựu tử, tử liễu hựu sanh, luân hồi chẳng dứt.
Nay gặp Trời ân xá lần ba, khuyên thiện nam tín nữ lo tu bồi đạo đức mà hưởng phước ngày sau, còn người mộ việc tu hành cũng thành Chánh quả.
Nếu tu thời bỏ hết cuộc giàu sang vui sướng ở thế gian. Hãy biết thế gian, muôn việc đều giả, trăm kế cũng không.
THI rằng:
Khán đắc phù sanh nhứt thế KHÔNG,
Điền viên sản nghiệp diệc giai KHÔNG.
Thê nhi phụ tử chung ly biệt,
Phú quí công danh tổng thị KHÔNG.
Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,
Kim ngôn bá kế nhứt trường KHÔNG.
Tiền tài thâu thập đa tân khổ,
Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ KHÔNG.
Quan Âm Như Lai

Sau đây, xin chép lại một bài Thánh Ngôn của Đức Quan Âm Bồ Tát dạy Đạo cho nữ phái, giáng cơ đêm 3-8-Nhâm Thìn (dl 21-9-1952), trích trong Thánh Ngôn Sưu Tập:
THI:
QUAN nam diện duợt chí từ bi,
ÂM đức cứu dân mới đắc thì
;
BỒ đạo giềng ba thân nữ độ,
TÁT giang đức cảnh thế nên ghi.
Hôm nay về cùng chư tín hữu phân ưu đạo hạnh, cũng nơi lòng ham mộ cửa từ bi, để mong sao thoát kiếp oan khiên nghiệp chướng, do bởi thế trần tạo nhiều khổ cảnh, mà chúng ta mãi vướng cuộc trầm luân, thì bao giờ rời được cái thân nhi nữ thường tình, nếu không sớm lo giải cứu thì sau nầy hối hận, đừng nói sao trễ bước.
Công bấy nhiêu thì quả bấy nhiêu, chỉ có tâm nhiệt thành đạo hạnh thì cơ siêu thoát mới mong hưởng đặng.
Còn một điểm luyến trần, khó mong cứu độ, chừng ấy ăn năn quá muộn, quí nhứt là sớm ngộ Tam Kỳ mà không lo tròn phận sự thì uổng một kiếp sanh vô lối. Dầu khổ dầu cực, cứ lăn lóc theo cơ Đạo để tạo nghiệp cảnh Hư Vô chi vị.
Nếu Bần đạo nói tận cùng, thiện tín phải kinh tâm mà chớ. Thật sự cõi trần là nơi giam hãm con người vào vòng trụy lạc, lại là kiếp khổ tái sanh.
Nếu không ngộ Tam Kỳ, ở Thiên cảnh ngó nơi trần thế, bắt ngậm ngùi cho thế. Chung quanh đều là ô trược để gạt và quyến rũ con người vào vòng tội lỗi, rồi phải chịu đọa luân hồi, khó mong nhìn thượng giới. Mãi bôn xu danh cùng lợi là điều buộc chặt linh hồn đó.
Dưới thế gian mượn nước gội sầu, chớ toàn đều nhơ uế. Cả Thần Tiên rất sợ cảnh trần nầy lắm, chỉ mượn cớ để giác ngộ, nếu hữu duyên thì tránh được, hầu bước qua cảnh mới, tức là siêu linh đó.
Bần đạo cám ơn và ban ơn cho. THĂNG.
(Trích Cao Đài Từ Điển - Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng)