Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Cái máy bơm


Cái máy bơm

Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kỳ cái gì chỉ để lấy một ngụm nước mát. Đi mãi đi mãi, đến khi đôi chân ông đã sưng lên nhức nhối, thì ông thấy một căn lều: cũ, rách nát, không cửa sổ.
Ông nhìn quanh căn lều và thấy ở mộ góc tối, có một cái máy bơm nước cũ và gỉ sét. Tất cả mọi thứ trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm, người đàn ông vội vã bước tới, vịn chặt tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có một giọt nước nào chảy ra cả.
Thất vọng, ông nhìn quanh căn lều. Lúc này, ông mới để ý thấy một cái bình nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên bình, ông đọc được dòng chữ nguệch ngoạch viết bằng cách lấy viên đá cào lên: Hãy đổ hết nước trong bình này vào cái máy bơm. Và trước khi đi, hãy nhớ đổ nước đầy vào chiếc bình này”.
Người đàn ông bật nắp bình ra, và đúng thật: trong bình đầy nước mát. Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào một tình thế bấp bênh. Nếu ông uống ngay chỗ nước trong bình, chắc chắn ông có thể sống sót. Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái máy bơm cũ gỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong lòng đất – rất nhiều nước.
Ông cân nhắc khả năng cả hai sự lựa chọn; nên mạo hiểm rót nước vào máy bơm để có nguồn nước trong lành, hay uống nước trong cái bình cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đã ở đó bao lâu rồi và không biết có còn chính xác nữa không?
Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước vào cái máy bơm. Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần máy bơm, một lần, hai lần... chẳng có gì xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không còn một nguồn hi vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên trì bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa...nước mát trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Người đàn ông vội vã hứng nước vào bình và uống.
Rồi ông hứng nước đầy bình, dành cho người nào đó không may mắn bị lạc đường như ông sẽ đến đây. Ông đậy nắp bình, rồi viết thêm một câu dưới dòng chữ có sẵn trên bình: “Hãy làm theo chỉ dẫn trên. Bạn cần phải cho trước khi bạn có thể nhận”.
Nguồn: songdep.xitrum.net

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Gieo gió gặt bão


Gieo gió gặt bão

Xưa có một vị vua độc ác tên là Raja Shankara. Ông ta rất hay nổi nóng và chẳng làm được việc gì cả. Mỗi ngày vài lần, ông ta lại tự nói với mình trong gương rằng: “Ta là chúa tể vĩ đại”.
Nỗi ám ảnh đó khiến vua Raja Shankara chẳng thể yêu nổi ai ngoài chính bản thân mình. Ông hoàn toàn thờ ơ trước tình trạng bất công đang hoành hành trên đất nước, vì đã dành quá ít thời gian cho việc triều chính.
Phần lớn thời gian Raja Shankara tắm mình trong sữa và mật ong. Nếu có bất kì người hầu thân cận nào, dù được nhà vua tin tưởng quý mến, mà dám “ngắt quãng” cuộc sống hưởng thụ của ông ta sẽ bị nhiếc móc, thậm chí bêu đầu.
Raja Shankara có tên quân sư độc ác không kém tên là Twishar Dhare. Hắn khuyến khích nhà vua dấn sâu thêm vào cuộc sống bê tha, trụy lạc mà không hề hay biết gì về mưu đồ mà vị quân sư “rất tận tâm” này đang thực hiện: Lật đổ ngai vàng, chi phối vương quốc bằng những mưu đồ độc địa.
Một buổi sáng nọ, nhà vua trở về sau cuộc cưỡi ngựa đi dạo với vẻ mặt nhiều xúc cảm. Ông tự nhốt mình trong căn phòng nguy nga và chỉ mở cửa khi mặt trời đã khuất núi.
Cả ngày hôm đó vị vua rất ít lời. Sáng hôm sau thức dậy, ông chuẩn bị thiết triều để tuyên bố với toàn thể văn võ bá quan và thần dân một quyết định quan trọng. Mọi người vô cùng lo sợ, không biết họ sẽ nhận được gì từ vị vua đang giận dữ.
Thật bất ngờ, vị vua tuyên bố: “Từ nay trở đi ta sẽ là một vị vua khác, nhân từ hơn, nhẫn nại hơn”.
Đúng với những gì đã tuyên cáo, vị vua thực sự trở thành một con người khác. Ông đã dẹp yên hết những bất công và đổ vỡ trên vương quốc bằng một phong thái mềm mỏng với mục đích là thay đổi con người mình từ bên trong.
Một ngày đẹp trời, tên cố vấn độc địa lấy hết can đảm hỏi vua lí do về sự thay đổi của ông. Vị vua trả lời: “Một buổi sáng cách đây một tháng, đang trên lưng ngựa, ta thấy một con chó dữ đuổi một con mèo. Con mèo đã lẩn vào trong một cái hố ngay sau khi bị con chó đớp vào chân, có vẻ như nguy hại đến tính mạng. Con chó sủa vang ngay gần một người nông dân. Và người này nhặt một hòn đá sắc, ném thẳng vào mắt con chó. Máu chảy đầm đìa, con chó hú lên trong đau đớn. Sau đó người đàn ông quay đi, đang đi thì ông ta trượt ngã bên vỉa đường và bị vỡ đầu.Tất cả sự việc xảy ra trước mắt ta. Sau đó ta bỗng nhận ra một điều: Cái ác lại nảy sinh ra cái ác. Ta đã nghĩ kĩ về điều đó và sẵn sàng từ bỏ cuộc sống của riêng ta để đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho thần dân. Ta muốn rũ bỏ cái ác và ta không muốn nó lại ngự trị trong ta nữa”.
Cười khẩy bước đi, tên cố vấn bất nhân nghĩ đây đúng là thời điểm tuyệt vời để đoạt ngôi vàng, vì vua Raja Shankara đã trở nên tốt bụng hơn, kiên nhẫn hơn và đang cố gắng tránh chiến tranh trên đất nước.
Đang nghĩ về kế hoạch lật đổ, hắn bước trượt 1 bậc thang và lăn xuống hết cầu thang, kết thúc bằng một cú va đập mạnh. Hắn tru tréo lên đau đớn khi nhận ra rằng đã gãy cả 2 chân. Quả đúng là cái ác lại sinh ra cái ác, gieo gió ắt sẽ gặt bão thôi. 
Minh Anh sưu tầm

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Cái bẫy chuột


Cái bẫy chuột

Chú chuột nhìn qua lỗ hổng của bức vách, thấy người nông dân và vợ ông ta đang mở một cái hộp. Chú chuột phân vân “không biết trong hộp đó có đồ ăn gì nhỉ?”. Nhưng rồi chú đã bị thất vọng hoàn toàn khi khám phá ra đó là một cái bẫy!
Lầm lũi đi ra sân trại, chú chuột buồn rầu than khóc: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”
Chị gà mái vẫn nhởn nhơ nhặt thóc, cục tác, ngẩng đầu lên và nói: “Chú chuột bé con, tôi biết rằng đây quả là một mối lo ngại nghiêm trọng cho chú đấy, nhưng nó không có liên quan gì tới tôi cả. Tôi không thấy phải bận tâm vì việc đó”.
Chú chuột rầu rĩ quay sang than khóc với bác lợn: “Bác lợn ơi, có một cái bẫy chuột trong nhà. Cháu lo lắm”. Bác lợn tỏ ý cảm thông nhưng cũng chỉ biết nói: “Bác rất lấy làm tiếc cháu yêu ạ, nhưng bác cũng chỉ biết cầu nguyện thôi. Bác sẽ cầu nguyện cho cháu hàng đêm”.
Chú chuột lại chạy tới chỗ cô bò và than: “Có một cái bẫy chuột trong nhà. Có một cái bẫy chuột trong nhà cô bò ạ”. Cô bò hạ giọng nói: “Ôi cháu chuột bé bỏng, cháu thật đáng thương, nhưng cô cũng không biết làm gì hơn”.
Vậy là chú chuột đáng thương lững thững trở về nhà, chán nản và thất vọng, nhìn chiếc bẫy chuột của người nông dân.
Vào đêm hôm đó, bỗng đâu từ trong ngôi nhà phát ra một âm thanh rất lạ, như thể có con mồi nào đó đã bị sập bẫy chuột. Người vợ vội vàng chạy ra xem con vật đang bị mắc kẹt trong cái bẫy. Trong bóng tối, bà không nhìn thấy một con rắn độc đang bị kẹt đuôi trong bẫy. Con rắn đã cắn người vợ. Sau đó người chồng vội vã đưa bà tới bệnh viện, bà trở về nhà với cơn sốt miên man.
Ai cũng biết rằng người ốm sốt thì cần ăn súp gà nóng, vậy là người nông dân không ngần ngại làm thịt chị gà mái để nấu súp cho vợ.
Nhưng người vợ vẫn ốm, bệnh tình dường như nặng thêm, vậy là bạn bè và láng giếng kéo đến thăm bà suốt ngày. Để tỏ lòng cám ơn và thiết đãi họ, người chồng đã giết bác lợn.
Nhưng người vợ vẫn không khỏe hơn, và cuối cùng bà đã chết. Mọi người kéo tới dự đám tang bà và người chồng chỉ còn duy nhất cô bò để thiết đãi bạn bè, láng giềng trong ngày tang lễ. Người nông dân quyết định mổ nốt cô bò.
Chú chuột nhìn qua khe hở của bức vách với nỗi buồn vô hạn.
Vậy thì lần tới khi bạn nghe ai đó tâm sự, chia sẻ với bạn rằng họ đang gặp rắc rối và nghĩ rằng chuyện đó không có liên quan gì tới bạn cả, hãy nhớ rằng: Khi một trong số chúng ta bị đe dọa, thì có nghĩa là tất cả chúng ta đều có thể gặp rủi ro.
Tất cả chúng ta đều có liên quan tới cuộc hành trình này - cuộc hành trình của cuộc đời. Chúng ta cần phải luôn quan tâm tới người khác và luôn cố gắng giúp đỡ, khích lệ mọi người xung quanh mình.
Mai Hương
Theo Revealingthesilence

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Luận về chữ "khổ"


LUẬN VỀ CHỮ “KHỔ”
VĂN PHÒNG PHỔ THÔNG GIÁO LÝ (Sài Gòn)
Tuất thời 14 tháng 5 Đinh Mùi (21-6-1967)

AN HÒA THÁNH NỮ, Tệ Nữ xin chào mừng chư Thiên mạng, chào chư đạo tâm, chư chức việc Cơ Quan Phổ Thông Giáo-Lý, chư liệt vị thân hào cố hữu viễn cận hương lân cùng nội ngoại tôn thân.
Hôm nay, Tệ Nữ không dám vì sự gia tư tử tôn mà làm bận lòng chư Bộ Phận Hiệp Thiên Đài và chư quí liệt vị, mà chỉ vì có bổn phận cần phải lập công bồi đức để góp phần vào Tam Kỳ Phổ Độ là thời kỳ đại ân xá. Do đó, Tệ Nữ xin bù đắp lại tấm lòng chơn tình của quí liệt vị nên Tệ Nữ nêu ra đây một đề tài mà Tệ Nữ đã học hỏi được và cho đó là con đường giải khổ cho tất cả mọi người và mọi giới ở thế gian còn mang nhục thể trong lớp bụi hồng.
Chư quí liệt vị ôi! ai cũng biết và cũng than thế gian là biển khổ nhưng chưa tìm hiểu tận gốc rễ của sự khổ để đào sâu bứng gốc rễ đó gọi là giải khổ, mà người đời chỉ than suông rồi thôi, để cho mặc định luật, mặc thời vận đẩy đưa. Mọi hoạt động trong buổi đời, muốn làm thì làm, muốn ăn chơi thì ăn chơi, làm tất cả những gì mà tâm trí của mình tự cho là phải, là thích, là thỏa mãn mọi tánh tò mò, chớ không tìm coi sự làm đó sẽ gây ra cái nhân gì và sẽ đem lại kết quả gì.
Thử nghĩ lại mà xem: một đứa trẻ thơ vừa mới chào đời thì đã mở miệng than hai tiếng “khổ a”. Sự than đó có phải chăng than vì điểm linh quang từ cõi thượng giới toàn tri toàn năng nay lại phải mang một mảnh hình hài ô trược, để rồi lăn vùi theo mọi ngoại cảnh trong cõi sắc giới này rồi không ngày trở lại, hay là than thở vì điểm linh quang sẽ phải ảnh hưởng nơi nhục thể, bị bức màn vô minh rồi không sử dụng đúng mức độ của bộ máy tối linh đó cho hạp với Đạo lý.
Người thế gian thường than khổ khi gặp một việc gì bất trắc nan giải. Những tưởng sự khổ nảy sanh trong mọi cảnh, nhưng nào hay đâu sự khổ ấy đã có nguyên thủy từ buổi sơ sanh và cũng nên hiểu rằng: nếu thế gian là bể khổ thì Tạo Hóa đã sanh vạn linh đến đây để làm chi rồi phải chịu đọa đày trong cảnh khổ.
Tạo Hóa đã sanh vạn linh đến cõi hồng trần là đã tạo hóa mọi thủy tú sơn kỳ, quả hoa châu ngọc, và mọi tiện nghi tối thiểu và cần thiết để dinh dưỡng bảo tồn cho vạn linh ấy. Nhưng than ôi! Người sanh trong cõi sắc giới này, vì quá nặng thương cái ta nên đã bị bức màn vô minh buông xuống rồi không nhìn thấy đâu là thiên lý lưu hành.
Nhớ lại mà xem: Sĩ Đạt Ta trước kia nào phải thiếu chi về vật chất của một vị Hoàng Tử ở chốn ngai vàng điện ngọc, gác phụng lầu son. Nếu xét về mặt hữu hình vật chất, thì người ấy không còn thiếu chi nữa mà gọi rằng khổ. Nhưng nhờ nơi người là một điểm nguyên căn tá trần, được sớm giác ngộ, liền bỏ chốn ngai vàng điện ngọc để tìm nguyên nhân cội rễ của sự khổ hầu tìm phương giải khổ cho nhân loại.
Nếu người tọa hưởng nơi chốn ngai vàng, chưa chắc gì đã ngộ được giáo lý, và cũng chưa chắc gì đem lời Đạo lý gây được niềm tin cho nhân loại.
Triết lý Phật Giáo cho rằng chúng sanh đang ở trong tứ khổ, đó là: sanh, lão, bịnh, tử. Nhân thế thường hiểu đại khái về bốn khổ đó nhưng chưa đào sâu để tìm thấy mỗi khía cạnh trong mỗi cái khổ. Do đó, từ xưa đã lắm người tu đã tìm thấy nguyên nhân sự khổ, đã biết cách giải khổ, nhưng rồi sự  khổ vẫn huờn khổ, nào có mấy ai tự hào rằng mình đã được vẹn toàn thụ hưởng hạnh phúc trần gian ngoài vòng tứ khổ.
Người đời ở trong một hoàn cảnh nào, một khi còn chú trọng về bản ngã, là cái ta, thì không bao giờ được sung sướng. Gần người mình ghét cũng khổ, xa người mình thương cũng khổ, thiếu thốn tiện nghi cũng khổ, dư dả xài không đúng chỗ gây điều tội ác cũng khổ.
Trong tình giao hữu, gặp người nói quấy, nếu dùng lời minh chánh ắt phải phật lòng cũng khổ, bằng nể tình người, nói bọc xuôi theo, nhưng tâm mình nhận xét là sai, cũng khổ.
Trong một đoàn thể, khi luật pháp qui điều đã định, trong lúc đó có một số nhơn viên thừa hành công vụ đi ngoài luật pháp qui điều, một người có quyền hành điều khiển đoàn thể đó, nếu thẳng thắn vì luật pháp qui điều, ắt phải phật lòng bạn rồi mất bạn, mất người phục vụ đoàn thể, cũng khổ. Nếu vì tình để được người cộng sự thì va chạm luật pháp qui điều, cũng khổ.
Trong hai tâm hồn của hai lớp người, một lớp người vì mưu sinh trong bất chính, khi thực hành một việc gì, tự đào sâu trong tâm não, tìm mọi bí quyết để thành công, nhưng chưa tìm ra lối thoát, cũng khổ. Một lớp người kia đang tìm mọi cách để đem lại hạnh phúc cho người đời, nhưng tìm chưa ra hoặc tìm ra mà hoàn cảnh không cho phép để thực hiện ý chí, cũng là khổ.
Thử so sánh lại hai lãnh vực hoạt động của hai lớp người, một lớp phục vụ loại người theo đường lối thanh cao nhơn nghĩa và đạo lý, một lớp chỉ phục vụ cho ích kỷ, cho cá nhơn, cho gia đình trong phương tiện tội lỗi trái đạo lý, cả hai cũng đều là khổ.
Hỡi những ai còn sanh trong vòng thế tục hãy xem mình là hột bụi cỏn con trong sa mạc và một giọt nước li ti trong khe suối, một cánh nhạn tung bay giữa trời nước bao la, một cây thông đứng giữa trời, dang những cành trơ trọi hứng lấy mọi sự biến chuyển của Xuân Hạ Thu Đông, để lòng mình được thênh thang rười rượi mát mẻ theo nhịp thiên nhiên.
Người đời thường nghĩ rằng vào Đạo tìm lý tu thân để giải khổ hầu thành Thần Thánh Tiên Phật, về hưởng thú tiêu dao nơi miền Thiên Đường Cực Lạc hay Bồng Lai Tiên Cảnh. Nếu đã có ý nghĩ đó là đã gây ra một cái nhân trong bánh xe luân để chờ ngày kết quả là luân hồi chuyển kiếp. Vì còn mang nhục thể, hễ làm một việc gì, tuy chưa làm thì đã nghĩ ngay đến cái lợi sắp đem lại cho mình, mặc dầu cái lợi đó trong hoạt động thiện từ, nghĩa nhân và Đạo lý.
Nếu nói về hạnh thường nhơn, tam phẩm chí nhơn, thì những ý nghĩ đó rất là tốt đẹp, vì chỗ tư lợi đó là bước đầu để dẫn người đời có tánh tham lam đi lần lần vào nẻo thiện. Còn khi muốn giải thoát mọi oan khiên nghiệp chướng ở chốn hồng trần, thì không nên nghĩ đến những gì có lợi cho mình, mặc dầu cái lợi đó hợp lý hợp tình và hợp đạo đức. Khi làm, chỉ làm vì ý thích việc từ thiện nhân ái, vì đạo lý, vì thích hợp với lẽ Trời mà làm, đừng mong vọng, đừng tư tâm những gì sẽ đưa đến. Chỉ một chút đó thôi, được giải khổ hay không cũng một nơi đó. Bởi vì hễ mong muốn là còn dục vọng, còn dục vọng là đã gieo nhân trong bánh xe luân, mà hễ luân hồi lên xuống nhiều đời nhiều kiếp không sao tránh khỏi những nghiệp duyên mới trong những kiếp lai sanh. Càng luân hồi là càng gây thêm sự khổ.
Tệ Nữ trước kia kể ra thì sự tu hành công quả chưa có bao. Ngày nay được đắc vị vào hành Thánh Nữ là nhờ những đặc điểm sau đây:
1) Những ngày tàn tạ của chuỗi đời, Tệ Nữ đã trọn thành trọn kỉnh, nhìn nhận rằng trên không đã có bộ máy huyền linh do Trời cai quản sắp xếp mọi điều.
2) Trọn lòng tin tưởng trong việc thiện từ nhơn nghĩa, khuyến khích tử tôn noi theo đàng đạo lý đừng để dở dang, và cũng chính tự mình ráng làm những gì có thể được.
3) Đến giờ phút cuối cùng sắp cổi bỏ nhục thể, bao nhiêu ăn năn hối hận những gì trong chuỗi đời đã tạo gây, và xin nguyện nếu được về cõi Tiên Thiên, nguyện sẽ cùng các Đấng tùy duyên hóa độ người đời theo đường Đạo lý để thuận lòng người và hạp lòng Trời.
4) Nhờ công quả và đại nguyện của các con phục vụ Đạo Trời với tất cả tấm lòng thành và mọi sở hữu.
Nhờ bốn yếu tố đó nên ngày nay Tệ Nữ được thoát ngoài bánh xe luân hồi chuyển kiếp, không bỏ một dịp nào có thể khuyên nhủ cùng tỉnh thức người đời.
Tệ Nữ nhớ lại hồi buổi sinh thời, tuy trong phạm vi nhi nữ thường tình, Tệ Nữ đã có những tư tưởng về đạo lý, nghĩ ra thiệt rất buồn cười, nhưng lúc đó nào có biết chi, tưởng vậy là hay là đúng. Tệ Nữ tưởng rằng cứ việc lo làm cho ra tiền bạc thật nhiều, đem cúng Phật cúng Trời để cầu xin Trời Phật phù hộ những gì mình mong đợi, ví như gia quyến được bình an, con cháu làm quan, buôn bán lời to, mua vé số được trúng thêm nữa, v.v...
Nhưng đến giờ phút này, thấy lại những điều đó hoàn toàn là những mong vọng đổi chác trong tinh thần thương mãi. Trời nào chứng kiến và chìu mình đâu. Cũng may lúc bấy giờ, những phương tiện làm ra tiền không đụng chạm đến lỗi niềm đạo lý. Thật ra thì có câu: Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn”.
Khi Trời đất đã ban cho mình có lộc, đừng nên hưởng hết, cũng như được trái ngon đừng nên ăn hết, hãy chừa một số nào đó đem đi ươm để gây giống khác.
Tâm địa một người lập vườn cũng thế, nhưng khác nhau trong hai tư tưởng. Có người lập vườn với bộ óc kinh doanh, sản xuất thật nhiều để đem lại nguồn lợi cho chính mình cũng như con cháu sau này. Có người lập vườn khác cũng có tư tưởng như vậy, nhưng đã thêm một tư tưởng mới. Đó là vì yêu thương nghề, vì thích thú nhìn xem sự nẩy mầm đâm tược cùng sự phát triển của các tầng lớp thảo mộc hoa quả dưới ánh Thái dương.
Mỗi một đêm, sáng ra người chủ vườn đi xem từng chi tiết một trong sự nẩy nở từng loại thảo mộc, rồi thiết tha thán phục máy nhiệm mầu của Tạo Hóa. Hơn nữa, sự lập vườn ngoài mục đích yêu nghề cùng thủ lợi, lại còn nghĩ đến sự sản xuất với vô tư, miễn được sản xuất cho nhiều, nếu không may gia quyến không được hưởng thì cũng có người khác hưởng. Đó là một tâm hồn mới.
Kìa có Thiên Sứ nơi cung Thái Ất và cũng hết giờ cần phải trở về chầu lịnh. Tệ Nữ xin chào chung chư quí liệt vị, Tệ Nữ xin kiếu từ, thăng.
Nguồn: tamgiaodongnguyen.com

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Nguồn động viên


Nguồn động viên

Một số những câu chuyện về sự thành công vĩ đại nhất trong lịch sử đều xuất phát từ một lời động viên và sự tin tưởng của người yêu hay một người bạn đáng tin cậy.
Nếu không nhờ người vợ có niềm tin mạnh mẽ như Sophia, chúng ta hẳn đã không tìm được cái tên Nathaniel Hawthorne giữa những tên tuổi vĩ đại của nền văn học Mỹ.
Khi Nathaniel đau khổ trở về nhà và nói với vợ rằng ông vừa bị mất việc làm, thái độ vui mừng của bà đã khiến ông ngạc nhiên:
“Bây giờ anh đã có thời gian để viết sách rồi!” bà vui mừng nói.
“Anh biết!” ông đáp không mấy tự tin.   “Nhưng chúng ta sẽ sống bằng gì trong thời gian anh ngồi viết?"
Trước sự ngạc nhiên của chồng, Sophia mở ngăn kéo và lấy ra một số tiền đáng kể.
“Em lấy số tiền đó ở đâu vậy?” - ông kêu lên.
“Em vẫn luôn biết rằng anh là một thiên tài” - bà bảo. “Em biết rằng một ngày nào đó anh sẽ viết nên một kiệt tác. Vì vậy, mỗi tuần em đã giữ lại một ít trong số tiền chợ anh đưa cho em. Chỗ này đủ cho chúng ta sống được một năm.”
Với sự tin tưởng và kỳ vọng của vợ, một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học Mỹ đã ra đời, tiểu thuyết: "Chữ A màu đỏ".
- Nido Qubein
Chẳng mất nhiều công sức mới làm cho người khác hạnh phúc.
Chỉ là một cử chỉ nếu bạn biết cách, chỉ là một lời nói đúng lúc... một sự điều chỉnh nho nhỏ cho một cái chốt, cái vít hay một con ốc trong cỗ máy tâm hồn tinh xảo của bạn.
- Frank Crane

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

Công dụng của tròng trắng trứng gà trong việc điều trị ngộ độc, trúng thực


TRỊ ĂN TRÚNG THỰC NGĂN NGỰC
Lỡ ăn trúng thực món chi,
Làm cho ngăn ngực đứng đi khó lòng,
Hãy mau cấp cứu mới mong,
Nếu để chậm trễ có khi chết liền,
Phương nầy diệu dược thần tiên,
Lấy hột tròng trắng trứng gà uống vô,
Tức thì nôn mửa ra liền,
Dứt cơn ngộp thở khỏi phiền thuốc thang.

TRỊ TRÚNG THỰC, NGỘ ĐỘC NGHẸT THỞ
Ăn trúng thực, hay uống thuốc nhầm, ngộ độc,
Phương pháp nầy, cứu khỏi chết rất hay,
Lấy hột gà tròng trắng cạy uống ngay,
Vừa tang ói, lại vừa trơn dễ mửa,
Phương pháp nầy, đã từng đem cứu chữa,
Giúp cho người thoát khỏi chết vẹn toàn,
Xin bà con biết vậy phải sẵn sang,
Liền mách bảo, cứu giúp người phước lớn.

LỠ ĂN NHẦM NẤM ĐỘC
Ăn nhầm nấm độc hãi kinh,
Hãy mau tìm thuốc thổ huỳnh uống vô,
Hoặc lấy tròng trắng hột gà,
Quậy cùng chút nước, uống qua ói liền,
Thổ huỳnh quậy uống tiếp vào,
Vài đôi mươi phút tức thì hết ngay,
Thuốc sao nghe nói lạ kỳ,
Mà là thần dược, uống thì hết ngay.

CỨU CẤP: LỠ UỐNG LẬM THUỐC QUÁ LIỀU
Uống thuốc tự tử chưa chết,
hoặc ăn uống trúng thực nghẹt cổ, ngực,
Ban đầu gặp phải bệnh trên,
Cứu cấp mau lẹ phải nên làm vầy,
Chớ dùng Nam, Bắc, Tàu, Tây,
Chậm trễ thì phải chết ngay tức thì,
Mau lấy tròng trắng trứng gà,
Hòa cùng chút nước uống mà ói ngay,
Trong bụng xổ hết ra ngoài,
Phương nầy cấp cứu thật hay vô cùng,
Bà con biết mách bảo chung,
Cứu người thoát chết phước trùng vạn thiên.

TRỊ UỐNG RƯỢU QUÁ SAY,
NẰM BẤT TỈNH, TRÚNG GIÓ MÊ CHẾT LUÔN
Chết vầy đã xảy khá nhiều,
Bà con ai biết nên kêu giúp giùm,
Uống rượu say quá độ chừng,
Mê man bất tỉnh, thường tình cứu qua,
Cho uống tròng trắng hột gà,
Nôn ra mửa bớt thế là giảm say,
Vỏ gòn đâm uống vô ngay,
Lấy mền đắp ngủ, tránh ngoài gió sương,
Đừng thấy như vậy xem thường,
Bệnh này đã chết nằm đường thiếu chi.
Nguồn: Trích từ kết tập những bài thuốc quý trong dân gian của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Ngay - Thẳng - Vuông - Tròn


Ngay - thẳng - vuông – tròn

Những lời của người thầy kính yêu dạy Văn năm xưa về cách viết chữ, về bài học làm người luôn sống mãi trong tâm trí tôi…
Đó là năm tôi học lớp chín. Lần trả bài tập làm văn đầu tiên, thầy phê vào bài tôi, rất cẩn thận, dòng chữ chân phương màu mực đỏ: “Em cần rèn chữ viết cho ngay thẳng và vuông tròn”.
Tôi cầm bài chạy lên:
Thưa thầy, xin thầy giảng rõ cho con hiểu ạ!
Thầy cầm tay tôi, vừa giúp tôi nắn nót từng chữ cái trên giấy, vừa giải thích:
- Trước hết con phải viết chữ cho ngay ngắn thẳng hàng, nghĩa là dòng chữ được ngay thẳng. Muốn vậy, con cần chú ý: những nét thẳng thì phải thẳng! Ví dụ nét sổ của chữ “b, t, d…”. Và dòng chữ phải nằm ngay hàng thẳng lối trên đường kẻ ô ly đậm…
Khi con rèn chữ được ngay thẳng rồi, tiếp theo con hãy luyện nét vuông tròn. Nghĩa là, những nét vuông thì phải vuông, những nét tròn thì phải tròn! Ví dụ nét vuông của chữ “u, y…,  nét tròn của chữ o, a...”. Con hiểu chưa? Chừng nào quen tay, thành thạo rồi, con có thể tha hồ múa bút… Nhưng dù lả lướt, bay bướm cỡ nào, những nguyên tắc đó vẫn bảo đảm thì chữ mới đẹp!
Rồi từng con chữ thầy chăm chút gò cho tôi theo đúng nguyên tắc ngay thẳng vuông tròn, trông rõ ràng và đẹp lạ lùng. Khác hẳn với chữ của tôi, nghiêng ngả, méo mó, khó xem… xấu xí tệ hại!
Những bài kiểm tra của tôi sau đó đều được thầy khen chữ viết có nhiều tiến bộ. Không riêng gì tôi, các bạn trong lớp cũng đều được thầy tận tụy rèn nét chữ như vậy.
Ngoài chuyện chăm rèn chữ, chúng tôi còn rất chăm học Văn, môn học mà trước đó học trò khá lười nhác. Có lẽ lí do trước tiên là chúng tôi rất thương thầy, tiếp đó mới là việc thầy dạy hay.
Cuối năm, chúng tôi phải xa thầy để lên cấp ba.
Buổi chia tay, thầy ân cần cầm từng bàn tay mỗi chúng tôi, khen chúng tôi đã cố gắng rất nhiều trong việc rèn chữ đẹp. Rồi thầy âu yếm dặn dò:
Các con hãy ráng nhớ lời thầy: Luôn tu tâm dưỡng tính cho ngay thẳng vuông tròn, các con sẽ có được tâm hồn đẹp, nhân cách đẹp, đẹp như nét chữ ngay thẳng vuông tròn vậy! Hãy cố gắng sống ngay thẳng, không quanh co gian dối, không làm điều mờ ám, nếu không giúp được người thì đừng hại người…! Cố gắng sống tử tế, có trước có sau, ân nghĩa thủy chung…! Các con ghi nhớ và làm theo lời dạy bảo của thầy là các con đã thương thầy, đã tặng món quà lớn lao và ý nghĩa nhất cho cuộc đời của thầy…                         
T.T.K.C. (Đồng Nai)

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Một số mẹo hay từ các bài thuốc quý trong dân gian

TRỊ KHÔ CỔ TẮT TIẾNG
Cam, chanh hai trái vắt ra,
Mật ong hai muỗng trộn hòa lẫn nhau,
Trà nóng đừng đậm pha vào,
Nuốt chầm chậm rãi tiếng khào hết ngay,
Phương nầy đơn giản mà hay,
Thuyết pháp, ca sĩ cả hai nên cần.

          TRỊ BỊ PHỎNG NƯỚC LỬA
Xẻ cây lô hội nha đam (cây Aloe Vera),
Đắp vào chỗ phỏng liền mau cấp thì,
Thuốc nầy là loại kháng sinh,
Thoa vào nó mát không phù lột da,
Cũng không làm độc, mát da,
Vết thương êm dịu thật là rất hay.

BỊ TÉ, ĐÁNH, ĐỤNG SƯNG
Làm đau nhức khó chịu,
Ăn ngủ không được rên la dữ dội,
Cắt trái chanh chấm muối đốt ngay,
Nóng áp đánh tới lui làm tan máu,
Sẽ bớt ngay giảm đau nhức tức khắc.

TRỊ RẮN CẮN SÔI ĐÀM
Phèn chua, ngũ bội, hồng hoàn (châu hồng hoàn),
Đâm vào cho uống, xác toan đắp vào,
Rút nọc nó hết rất mau,
Là phương cấp cứu làm sao chỉ giùm.

TRỊ RÍT CẮN SƯNG KHỚP
Rủi bị con rít chích đau,
Lấy nhớt trong miệng con gà xức vô,
Nó kỵ sẽ hết tức thì,
Đó là phương pháp khó bì chi hơn.

THUỐC CẦM MÁU BỊ ĐỨT
Có nhiều cách cầm máu có công hiệu:
1 – Thạch Ngọc Hành đệ nhất cầm ngay,
Đặt vào ngưng hẳn cách nầy diệu phương.
2 - Thứ nhì đọt chuối hột còn non,
Đắp vào nó cũng cầm ngay tức thì.
3 - Thứ ba lô hội nha đam,
Nhai đắp băng lại vết thương,
Máu ngưng tức khắc phương nầy rất hay.
4 - Thứ tư ổ dán nhện tròn,
Giống tợ bông gòn gỡ đắp vết thương.
5 - Thứ năm nhúng nước thuốc rê,
Băng ngay chỗ đứt cũng cầm máu ngay.
Năm thứ cầm máu trên đây,
Đã có thực nghiệm cầm hay vô cùng.

TRỊ BỆNH SUYỄN HẾT TUYỆT
Bệnh suyễn khó trị hết ngay,
Uống không trúng thuốc kéo dài lâu năm,
Thần y diệu dược sưu tầm,
Yến chưng lại với đường phèn uống vô,
Tuy là tốn kém số tiền,
Nhưng mà hết bịnh khỏi phiền khỏi lo,
Nay thầy từ ái chỉ cho,
Linh đơn thần dược giúp cho an lành,
Nhiều người uống được mạnh lành.

CỨU CẤP TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
BÌNH PHỤC TỨC KHẮC
Mạch máu não, đứt đi là nguy hiểm,
Không chết liền, cũng tàn tật suốt đời,
Vậy bà con, hãy cố gắng kịp thời,
Đâu ngồi đó, đừng chuyển thân động đậy,
Đầu ngón tay, châm máu ra mười ngón,
Bóp nặn ra, năm mười phút tỉnh liền,
Nếu miệng còn méo mó, mắt xéo xiên,
Liền tiếp vuốt, hai vành tai ửng đỏ,
Rồi kim chích, nặn máu ra dưới chót,
Mười phút sau, miệng mắt trở bình thường,
Vài giờ sau, mới đụng đến thân người,
Thì mạch máu không vỡ tung nguy hại,
Điều cấm kỵ, không, cạo, xông, thoa bóp,
Không chở đi cứu cấp chạy lòng vòng,
Mạch máu đầu, càng bễ vỡ ở bên trong,
Càng nguy kịch, cho bệnh nhân khó cứu.

TRỊ BỆNH BONG GÂN SƯNG U LÊN
1 - Bong gân chà xát ráng chịu đau,
Chà nóng nhiều lần sẽ hết đau,
Kiên chí, bền tâm chà vậy mãi,
Đừng để da phồng sẽ hết mau.
2 - Chanh nướng nóng lên đem chấm muối,
Chà vừa sức chịu được nhiều lần,
Máu lưu, gân chuyển mau lành bệnh,
Phương cách trị nầy giảm hết ngay.
3 - Tỏi lơi đâm nát muối, thêm gừng,
Xào giấm ấp lên bó đỡ đau,
Ba bốn giờ sau xào bó lại,
Ngày đôi ba cữ cũng hết mau.

TRỊ NỔI MÀY ĐAY
1 - Ăn nhằm phong nổi mề đay,
Tàng ong đốt lửa xông thì hết ngay.
2 - Lá sả, thuốc cứu, tía tô,
Đốt xông cũng hết chẳng tiền tốn chi.
3 - Lá chanh, lá bưởi, trần bì (vỏ quít),
Rau răm, é, tía đốt đi xông liền,
Mề đay lặng xuống khỏi phiền.
4 - Giấm thoa rượu xát, trầu đâm xát vào,
Chanh chua thoa đánh cũng xuống ngay.
Bốn cách đã kể trên đây,
Phương nào chữa được xin bày giúp cho.
Nguồn: Trích từ kết tập những bài thuốc quý trong dân gian của Hòa Thượng Thích Giác Nhiên

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Điều kỳ diệu của sự lạc quan


Điều kỳ diệu của sự lạc quan

John thuộc tuýp dễ khiến người ta ghét. Bởi lúc nào anh cũng “phởn phơ” và luôn nói những điều tích cực. Giả dụ bạn có hỏi “dạo này anh khỏe không?”, thế nào anh ta cũng nói: “Nếu còn khỏe hơn được nữa thì hẳn tôi có anh em sinh đôi rồi”.
John là nguồn động viên tự nhiên nhất với mọi người. Nếu đồng nghiệp nào có một ngày làm việc tồi tệ, anh thường bảo họ cách nhìn ra khía cạnh lạc quan của hoàn cảnh. Chứng kiến điều này, tôi thực sự tò mò. Vậy là một ngày, tôi quyết định tới hỏi John: “Tôi không hiểu nổi! Không thể lúc nào anh cũng là người lạc quan. Vậy làm thế nào anh làm được điều đó?”.
Anh trả lời, “Mỗi sáng, khi thức dậy, tôi thường tự nhủ, hôm nay mình có hai lựa chọn. Mình có thể vui vẻ hoặc có thể cáu bẳn. Và tôi đã chọn tâm trạng vui vẻ. Mỗi khi có chuyện gì không hay xảy ra, tôi có thể chọn hoặc là nạn nhân hoặc có thể học hỏi điều gì từ chuyện đó. Và tôi đã chọn cách thứ hai. Mỗi lúc ai đó tới phàn nàn với tôi, tôi có thể chọn cách hoặc chấp nhận nghe lời phàn nàn của họ, hoặc có thể chỉ ra những phương diện tích cực của cuộc sống. Và tôi đã chọn cách nhìn ra niềm vui ở đời”.
“Vâng, đành là như vậy. Nhưng như thế cũng đâu có dễ dàng gì”, tôi phản bác.
 “Đúng thế”, John tiếp tục. “Cuộc sống là những lựa chọn. Nếu anh vứt bỏ đi tất cả những điều vụn vặt thì mọi tình huống trong cuộc sống đều là sự lựa chọn. Anh chọn cách phản ứng với những tình huống đó như thế nào. Anh chọn cách để mọi người tác động tới tâm trạng của anh ra sao. Anh chọn vui vẻ hay buồn chán. Điều quan trọng nhất chính là lựa chọn bạn nên sống cuộc sống của bạn như thế nào”.
Tôi ngẫm nghĩ về những điều John nói. Chẳng bao lâu sau, tôi bỏ công việc đang làm để mở công ty riêng. Tôi và John mất liên lạc với nhau nhưng tôi vẫn luôn nghĩ tới anh mỗi khi cần phải lựa chọn trong cuộc sống thay vì phản ứng lại nó.
Nhiều năm sau, tôi nghe tin anh bị tai nạn rất nghiêm trọng. Nghe đâu anh bị ngã từ một tòa tháp viễn thông cao gần hai mươi mét. Sau mười tám giờ phẫu thuật và hàng tuần nằm điều trị đặc biệt, John ra viện trong tình trạng bị nẹp xương lưng.
Khoảng sáu tháng sau vụ tai nạn, tôi gặp lại anh. Khi tôi hỏi anh thấy thế nào thì anh đáp, “Nếu mà khỏe hơn được nữa thì hẳn tôi có anh em sinh đôi. Này, có muốn ngó qua đám sẹo của tôi không?”.
Tôi từ chối nhưng hỏi anh đã nghĩ gì khi vụ tai nạn xảy ra. “Điều đầu tiên lướt qua tâm trí tôi lúc đó là cuộc sống hạnh phúc của đứa con gái sắp ra đời của tôi”, John đáp. “Khi đó, tôi nằm trên mặt đất, tôi nhớ rằng mình có hai lựa chọn. Tôi có thể chọn để sống và cũng có thể chọn để chết. Và thế là tôi chọn sống”.
 “Anh không sợ chút nào ư? Chẳng phải anh đã bất tỉnh đó sao?”, tôi hỏi.
John tiếp tục, “Các nhân viên y tế thật tốt bụng. Họ liên tục bảo rằng nhất định tôi sẽ ổn. Nhưng khi họ đưa tôi vào phòng cấp cứu, nhìn vẻ mặt của các y bác sỹ, tôi đã thực sự hoảng sợ. Trong mắt họ, tôi đọc thấy dòng chữ “anh ấy chết rồi”. Tôi hiểu rằng tôi cần phải hành động”.
“Và anh đã làm gì?”, tôi hỏi.
“À, lúc đó một cô y tá to lớn hét to câu hỏi vào tai tôi. Cô ấy bảo tôi có dị ứng với cái gì không. “Có”, tôi đáp vậy. Các y bác sỹ tạm ngừng công việc để chờ tôi trả lời. Tôi hít sâu một hơi rồi nói to: “Trọng lực!”.
Át đi tiếng cười của họ, tôi bảo: “Tôi đã chọn để sống. Hãy mổ cho tôi như là tôi đang sống chứ không phải đã chết”.
John đã sống, nhờ vào tài năng của các bác sỹ, nhưng cũng là nhờ thái độ sống kỳ diệu của anh. Tôi đã học được anh điều đó.
Mỗi ngày, chúng ta đều có các lựa chọn để sống thật trọn vẹn. Sau tất cả mọi điều, thái độ sống là tất cả. 
Đỗ Dương
Lược dịch theo Francie Baltazar-Schwartz

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Lòng tốt và sự may mắn


Lòng tốt và sự may mắn

Đây là câu chuyện về bà nội mà bố đã kể lại cho tôi nghe.
Năm 1949, bố tôi vừa trở về từ chiến trường. Buồn thay, niềm vui sum họp gia đình chẳng mấy chốc tan biến vì bà nội đột nhiên đổ bệnh rất nặng và buộc phải nhập viện. Bà bị bệnh thận và các bác sĩ nói rằng bà cần được truyền máu ngay lập tức nếu không bà khó có thể qua khỏi đêm đó. Vấn đề là bà tôi thuộc nhóm máu AB - một nhóm máu rất hiếm và trong ngân hàng máu không còn và cũng không có những chuyến bay tải máu cấp cứu như bây giờ. Tất cả các thành viên trong gia đình đều đi thử máu nhưng không ai có thể truyền máu được cho bà nội. Vì thế bác sĩ không thể cho gia đình tôi bất cứ một tia hi vọng nào, bà nội đang đứng trên ngưỡng cửa của cái chết.
Bố tôi đau khổ rời khỏi bệnh viện để về thông báo cho mọi người trong gia đình để gặp nội lần cuối. Khi bố tôi đang lái xe trên đường cao tốc, ông đi qua một người lính đang vẫy tay xin đi nhờ. Lúc đó trong lòng bố tôi đang đau đớn khôn cùng, ông không có ý định làm một cử chỉ tốt đối với ai cả. Nhưng có một điều gì đó thôi thúc ông dừng lại và ngồi đợi người lính xa lạ trèo vào xe.
Bố tôi quá đau buồn nên cũng chẳng hỏi tên người lính đó, nhưng người lính đó đã chú ý đến gương mặt đau khổ của bố tôi, anh bèn hỏi thăm cơ sự. Cha tôi vừa khóc vừa nói cho anh lính xa lạ này biết mẹ ông đang nằm trong bệnh viện vì không có máu nhóm AB - để truyền cho bà. Và nếu bà không được truyền máu trong đêm nay thì bà chắc chắn sẽ chết.
Nghe xong câu chuyện, người lính chưa rõ danh tính chợt xòe bàn tay trước mặt bố tôi. Trong lòng bàn tay là một tấm thẻ đeo quanh cổ. Trên tấm thẻ có ghi nhóm máu AB. Người lính bảo bố tôi quay xe chở anh đến bệnh viện.
Bà nội tôi đã sống đến tận năm 1996, 47 năm sau đó và cho đến tận bây giờ không ai trong gia đình tôi biết tên người lính tốt bụng và bố tôi vẫn tự hỏi, đó là một người lính hay một thiên thần trong bộ quân phục? 
Minh Nguyệt
Nguồn: www.dantri.com.vn

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Sơ suất hoàn hảo



Sơ suất hoàn hảo

Ông ngoại tôi là thợ mộc. Ngày nọ, ông đóng vài cái hộp để gửi quần áo của nhà thờ cho các trẻ mồ côi Trung Quốc. Trên đường về nhà, ông thò tay vào túi áo lục tìm đôi kính mới mua, nhưng chẳng thấy gì...
Ngẫm lại những việc đã làm, ông hiểu ra sự việc. Hẳn là đôi kính đã vô tình tuột khỏi túi áo rơi vào một trong những cái thùng ông đã đóng đinh rất chặt đó. Vậy là đôi kính mới mua của ông đã lên đường sang Trung Quốc!
Nỗi chán nản đã lên tới đỉnh điểm của nó. Hồi đó ông ngoại có tất cả sáu người con, ông đã phải bỏ ra 20 đô la để mua đôi kính mới sáng nay. Ý nghĩ sẽ phải bỏ tiền mua một đôi khác làm ông thực sự mệt mỏi. “Ông trời thật chẳng công bằng chút nào”, ông lầm bầm như vậy trên đường lái xe về nhà. “Mình đã rất tận tuỵ dành thời gian và tiền bạc vào công việc từ thiện đó, vậy mà bây giờ thì thế này đây”.
Nhiều tháng trôi qua, giám đốc của một trung tâm trẻ mồ côi có kỳ nghỉ phép tại Mỹ. Ông này muốn tới thăm tất cả các nhà thờ đã từng giúp đỡ trung tâm của ông ở Trung Quốc. Vậy là ông đã có mặt phát biểu trong một ngày chủ nhật tại ngôi nhà thờ nhỏ của ông ngoại tôi tại Chicago.
Ông bắt đầu bài diễn thuyết bằng việc gửi lời cảm ơn lòng hảo tâm của tất cả những người đã hỗ trợ cho trung tâm trẻ mồ côi. “Nhưng trên hết”, ông nói, “tôi phải cảm ơn đôi kính các bạn đã gửi cho chúng tôi hồi năm ngoái. Các bạn biết đó, khi đám kẻ xấu quét qua khu trại trẻ mồ côi, chúng đã phá hủy mọi thứ, kể cả đôi kính của tôi. Tôi thực sự tuyệt vọng bởi ngay cả nếu có tiền, tôi cũng không dễ gì thay được đôi kính đó. Cùng với tình trạng mắt mũi chẳng ra sao, ngày nào tôi cũng bị đau đầu, vậy nên lúc nào tôi và các cộng sự cũng chỉ mong muốn có được một đôi kính như vậy. Thế rồi những hộp đồ của các anh chuyển đến, khi tháo các lớp bọc ra, người của chúng tôi tìm thấy một đôi kính được chẹn lại giữa hai tấm chăn bông”.
Ông giám đốc ngưng lại một lúc như để lắng lại những điều vừa nói, rồi tiếp tục cuốn hút người nghe về sự việc kỳ lạ này, ông kể, “Các bạn yêu quý, khi đeo thử đôi kính, tôi thấy như thể nó đã được làm dành cho tôi vậy! Tôi muốn cảm ơn các bạn vì điều đó”.
Tất cả đám đông đang nghe đều cảm thấy vui với câu chuyện về đôi kính. Nhưng họ nghĩ, có lẽ ngài giám đốc đã nhầm nhà thờ của họ với một nhà thờ khác vì trong danh sách những món đồ họ gửi đi làm gì có đôi kính nào. Nhưng ngồi lặng lẽ phía sau, nước mắt trào ra xúc động, người thợ mộc vô danh đã hiểu ra lẽ tuyệt vời của cuộc sống mà Chúa đã sắp xếp cho ông.
Có những khi ta cứ oán thán thay vì cảm ơn ông Trời trong khi đáng lý ta phải biết cảm ơn nhiều hơn. “Cảm ơn Trời đã giúp xe của con không chạy được sáng nay” bởi biết đâu ông Trời đã cứu bạn thoát khỏi một vụ tai nạn xe cộ nào đó. “Cảm ơn Trời vì đã để con làm mất đôi kính, con tin rằng nó sẽ trở nên hữu dụng với ai đó và có thể lại học được một bài học cuộc sống”.
Hãy luôn tìm kiếm những sơ suất hoàn hảo trong cuộc sống của bạn. 
Đỗ Dương (Dịch)