Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2010

Thập nhị cẩm đoạn



  
                                              
1.-      Khấu Xỉ  (Đóng răng): ngồi  bán già hoặc đứng, lưng ngay  thẳng, định  thần, thở ra vô ba hơi cho đều. Kế đóng răng, nghĩa là: cho hai hàm răng gõ mạnh với nhau 36 lần.
Răng là mối đầu của xương gân, thường thường đóng răng là khiến cho xương  gân hoạt động, thì tự nhiên thân được tráng kiện, thần được vượng.
2.-     Yên Tân (Nuốt nước miếng): Cong lưỡi lên cho đụng ổ gà và định thần ở chỗ  đó  – mà làm như súc miệng để lâu như vậy, nước miếng sẽ  ra đầy miệng, rồi phân ra nhiều  lần mà nuốt. Mỗi lần nuốt cho mạnh kêu “ực “ ra tiếng, khiến cho nước miếng chạy khắp cả  ngũ tạng, thì Hỏa trong mình tự nhiên đi xuống.
Nuốt nhiều lần như vậy càng  hay.
3.-    Rửa Mặt khô (Dục diện  bộ): Nhập hai lòng bàn tay lại chà xát cho đến nóng, vuốt từ cằm đến huyệt Ấn Đường 6 lần, từ Ấn Đường tỏa ra hai bên (hướng ra 2 lỗ tai) 3 lần, và từ Ấn Đường vuốt thẳng lên huyệt Thần Đình (vùng trán giáp với chân tóc 3 lần), lặp lại các động tác trên 3 lần. Tổng cộng 36 lần vuốt: (6+3+3)x3=36. Làm giống như sớm mai thức dậy rửa mặt vậy. Làm thường như thế  thì sắc mặt sẽ được tươi tắn.
4.-     Minh Thiên cổ  (Bơm trống trời):  Đem hai bàn tay sè, ôm cái ót vừa úp vào hai lỗ tai; thở ra vô nhẹ nhàng 9 lần, đừng cho lỗ tai nghe. Kế lấy ngón tay trỏ đè lên ngón tay  giữa mà gõ trên đó (ngay sau ót), càng mạnh, càng tốt cả hai bên tả hữu một lượt, gõ 24 cái .


5.-     Vận Cao Hoang huyệt  (Vận động huyệt Cao hoang ) .
Cái huyệt này (nói đúng là có hai huyệt: Cao và Hoang) ở khoảng giữa trái tim  và xương sống, ngang với chả vai. Thuốc men uống vào, hoặc do châm chích, đều không đi  tới  chỗ đó được. Thường vận chuyển hai vai, mỗi khi 7 lần, thì có thể đánh tan các chứng bệnh của  thân thể.
6.-    Thác Thiên (đở trời): Nhập hai bàn tay lại, tréo 10 ngón tay vào nhau, rồi lật  ngửa 2 bàn tay lên trên, gác nó trên đỉnh đầu, xong rồi giơ thẳng hai cánh tay lên trời cho thiệt  mạnh, dường như đở trời vậy, rồi  hạ xuống để trên đỉnh đầu.
Hãy tập như vậy 9 lần. Nhớ khi giơ tay lên thì hít vào (hấp), khi hạ xuống thì  thở ra (hô). Thở ra, thở vô phải cho đều, nhẹ nhàng, chậm rãi.


7.-     Tả Hữu môn cung (cửa hình cây cung, bên tả, bên hữu): Phải  nín  thở, đưa  ra trước mặt cánh tay trái ngay thẳng, còn cánh tay mặt nắm nó bẻ qua phía mặt hình như cây  cung, hai con mắt ngó đưa theo cái  hình ấy.
Cánh mặt, cánh trái mỗi bên làm như vậy ba lần. Mục đích là để tả hỏa ở trong tam tiêu (cái thân mình chia làm ba phần, trên là thượng tiêu, giữa là trung tiêu, dưới là hạ tiêu. Tam tiêu là đường nước thông lưu trong thân thể).
8.-     Xát đơn điền (chà xát đơn điền): lấy tay trái nâng phía dưới cái bụng lên cao  một tí, rồi đem tay mặt đặt tại huyệt Khí Hải (dưới rốn 1,5 thốn) rồi xoay trái (phần bụng xung quanh lổ rún) 36 lần. Kế đổi chiều xoay phải chà xát 24 lần.
9.-     Ma nội thận huyệt (chà xát huyệt trái cật): Phải nín thở, nhập hai bàn tay lại xoa cho nóng, rồi đem hai bàn tay ra sau lưng, chỗ hai trái cật (thận), chà xát 36 cái.


10.-    Xát Dũng Tuyền (chà huyệt Dũng tuyền ở hai lòng bàn chân): Dùng tay trái nắm cứng chân trái, còn tay mặt chà lòng bàn chân trái 36 lần. Rồi đổi tay mặt nắm chân mặt, cũng làm y như trước.


11.-    Ma Giáp Tích huyệt (chà huyệt Giáp Tích): Cái huyệt này ở chính giữa xương sống có 24 đốt, trên phân nữa là 12 đốt, dưới phân nữa là 12 đốt, dưới chỗ trái tim một chút. Nó thống nhứt tất cả huyết mạch của toàn thể thân thể. Thường vận chuyển nó rất hữu ích cho sức khỏe con người.
Vận chuyển như thế nào? Hễ xoay thân mình bên trái thì bàn tay trái xòe ra chống vào hông bên trái. Hễ xoay thân mình bên phải thì bàn tay phải xòe ra chống vào hông  bên phải. Cứ như thế, vận mỗi bên 36 lần.
12.-    Sái thối túc  (vận bàn trôn và hai chân): Chẳng vận động thì khí huyết  không hòa, sức khỏe  phải kém.
Hãy đứng vững một chân, trước đứng chân trái mà quay chân mặt (luôn cả bàn trôn) đủ 7 lần. Sau đổi đứng chân mặt mà quay chân trái, cũng y như trước. (Khi đứng chân trái, nhấc chân mặt lên quay chuyển động phần khớp xương háng và xương đùi, quay chân từ trong ra ngoài rồi ngược lại; khi đó sự chuyển động tác dụng trên phần bàn tọa, khớp háng, chân. Chú ý tập nhẹ nhàng. Sau khi tập bài này, lúc ngồi tư thế xếp bằng, kiết già hoặc bán già để tịnh sẽ thấy dễ dàng hơn do đã luyện tập khớp háng, các dây chằng, dây thần kinh).
Trên là Thập  nhị  cẩm  đoạn, nghĩa là 12 phép tu tập vệ sinh chọn lọc của hai vị Đại Tiên Hớn Chung Ly và Lữ Động Tân do Ngài Minh Thiện dịch.
Mỗi  ban  mai khi thức dậy, hay là mỗi ban chiều, trước lúc ngủ, hãy tập qua một lần 12 động tác như nói trên. Còn trong ngày, lúc nào rảnh, cũng nên tập như thế, rất có ích cho sức khỏe  của  mình.
Ghi chú: Thập Nhị Cẩm Đoạn ngoài những động tác đơn thuần chỉ là khởi động các khớp xương tay, xương vai, khớp xương chân thì có một số động tác chúng ta không nên áp dụng nếu như chúng ta chưa được người hiểu rành về các động tác đó hướng dẫn cụ thể cho mình. Những động tác chúng ta nên thận trọng áp dụng, đó là: Ma nội thận huyệt (chà xát huyệt trái cật); Xát đơn điền (chà xát đơn điền).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét